Giải pháp mới trong Phục hồi chức năng hậu COVID-19 bằng Công nghệ Điện trị liệu Tần số cao (HiToP).
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG HẬU COVID-19: TÁC ĐỘNG CỦA KÍCH THÍCH CƠ ĐIỆN TẦN SỐ CAO
Một nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên
Nhóm tác giả: PGS.TS. Khalid Taha Yassin Turky; Giảng viên Dina Moustafa El Maleh; Trợ giảng Heba Abd El Ghafar, Eman Kadrdy.
Đơn vị công tác: Đại học October 6, Đại học Ain Shams, Đại học Cairo.
GIỚI THIỆU
Hậu COVID-19 là tình trạng các triệu chứng dai dẳng mạn tính bao gồm sự tổn thương đa hệ thống, trong đó bao gồm suy giảm khả năng vận động (chức năng), giảm chất lượng giấc ngủ và khởi phát tình trạng mệt mỏi mạn tính.
COVID-19 xâm nhập vào tế bào thông qua thụ thể men chuyển Angiotensin 2 (ACE2). Thụ thể này phân bố rộng rãi ở các mô trong cơ thể, do đó virus có thể gây tổn thương đa cơ quan.
Tình trạng viêm mức độ thấp mạn tính và sự kích hoạt hệ miễn dịch qua trung gian tế bào, cũng như sự gia tăng các chất trung gian gây viêm, có thể dẫn đến rối loạn chức năng ti thể, và góp phần gây ra các triệu chứng lâm sàng của căn bệnh này.
Hình 1: Cơ chế tổn thương đa cơ quan

Quá trình SARS-CoV-2 xâm nhập vào tế bào vật chủ ở phổi và tấn công các cơ quan khác: SARS-CoV-2 đi vào phổi, tại đây glycoprotein gai (spike glycoprotein) của virus liên kết với thụ thể ACE2 trên tế bào, cho phép virus xâm nhập vào bên trong tế bào, từ đó gây tổn thương đa cơ quan như Não, Phổi, Tim, Gan, Tụy, Thận, Ruột.
SUY GIẢM KHẢ NĂNG VẬN ĐỘNG
Sự suy giảm khả năng vận động dưới mức tối đa (submaximal functional capacity) do hậu COVID-19 được minh chứng bằng việc dự báo giảm 25% quãng đường trong trắc nghiệm đi bộ 6 phút (6 MWD) và giảm 35% so với giá trị kỳ vọng của khả năng tiêu thụ oxy đỉnh (VO2-peak).
MỆT MỎI MẠN TÍNH & RỐI LOẠN GIẤC NGỦ
Mệt mỏi mạn tính hậu COVID-19 rất giống với bệnh viêm não tủy cơ (hay đau cơ xơ hóa):
- biểu hiện qua các đợt mệt mỏi tột độ dai dẳng hoặc tái phát
- suy giảm nhận thức
- khó chịu (mệt mỏi) sau gắng sức
- giấc ngủ không giúp phục hồi năng lượng
- đau đầu.
Hình 2: Ảnh minh họa

Mệt mỏi mạn tính hậu COVID-19 có liên quan đến sự rối loạn hệ miễn dịch, tình trạng viêm và rối loạn chức năng ti thể.
Rối loạn giấc ngủ phổ biến ở những người thuộc mọi nhóm tuổi đã từng mắc COVID-19, với tỷ lệ hiện mắc ước tính dao động từ 41% đến 52%.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đánh giá tác động của liệu pháp điện trị liệu tần số cao (high tone power therapy) đối với tình trạng mệt mỏi mạn tính, khó thở (dyspnea), khả năng vận động và rối loạn giấc ngủ ở các bệnh nhân mắc hội chứng hậu COVID-19.
ĐỐI TƯỢNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên, mù đôi (RCT).
Sơ đồ nghiên cứu: Sàng lọc 79 bệnh nhân, loại 23 bệnh nhân (không thỏa mãn tiêu chí). 56 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu và phân bổ ngẫu nhiên thành 2 nhóm (mỗi nhóm 28 người).
Nhóm A (Nhóm nghiên cứu): Nhận trị liệu bằng máy điện tần số cao 60 phút/buổi, 3 buổi/tuần trong 4 tuần (tổng cộng ít nhất 10 buổi) kết hợp bài tập tự kéo giãn (self-stretch) cho bàn tay và khớp vai.
Nhóm B (Nhóm chứng): Nhận trị liệu tần số cao giả dược (sham therapy) 60 phút/buổi, 3 buổi/tuần trong 4 tuần, kết hợp bài tập tự kéo giãn (self-stretch) cho bàn tay và khớp vai.
Đăng ký và phê duyệt: Nghiên cứu được đăng ký trên clinicaltrials.gov (NCT05217771) và được Hội đồng Đạo đức, Khoa Vật lý trị liệu, Đại học Cairo phê duyệt (Số: P.T.REC/012/003594, ngày 04/01/2022).
Sơ đồ 1: Sơ đồ nghiên cứu

QUY TRÌNH CAN THIỆP & CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ
Sơ đồ 2: Quy trình điều trị

Can thiệp: Liệu pháp điện trị liệu tần số cao toàn thân (Whole-body treatment – Chương trình SimulFAM i). Sử dụng 4 cáp phân phối (Cáp I = đỏ, Cáp II = xanh lá, Cáp III = vàng, Cáp IV = xanh dương).
Hình 3: Kỹ thuật viên áp dụng liệu pháp High Tone Power Therapy cho toàn bộ cơ thể.

Hình 4: Hướng dẫn gắn điện cực lên cơ thể bệnh nhân

Hình 5: Hình ảnh thiết bị sử dụng trong bài nghiên cứu: HiToP 2 touch

Công cụ đánh giá:
Sơ đồ 3: Quy trình đánh giá

-
- Thang điểm đánh giá mệt mỏi Chalder (CFQ-11).
- Trắc nghiệm đi bộ 6 phút (6MWT).
- Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI).
- Thang điểm đánh giá mức độ gắng sức Borg (Borg Scale).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Dữ liệu nhân khẩu học
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi tác, cân nặng, chiều cao và chỉ số BMI giữa hai nhóm (p > 0,05).
Bảng 1: Tuổi, cân nặng, chiều cao và chỉ số BMI trung bình của nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng.
| Chỉ số (Trung bình) | Nhóm nghiên cứu (A) | Nhóm chứng (B) |
| Tuổi (năm) | 46.67 | 47.89 |
| Cân nặng (kg) | 76.82 | 78.04 |
| Chiều cao (cm) | 169.67 | 171.35 |
| Chỉ số BMI (kg/m2) | 26.83 | 26.65 |
Tác động lên Trắc nghiệm đi bộ 6 phút – 6MWT
Bảng 2: Giá trị trung bình của Nghiệm pháp đi bộ 6 phút (6MWT) trước và sau điều trị ở nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng.
| Thời điểm | Nhóm nghiên cứu (A) | Nhóm chứng (B) |
| Trước điều trị | 345.64 | 348.61 |
| Sau điều trị | 467.11 | 345.82 |
Tác động lên Thang điểm mệt mỏi Chalder – CFQ-11
Bảng 3: Điểm trung bình Thang đo Mệt mỏi Chalder (CFQ-11) trước và sau điều trị ở nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng.
| Thời điểm | Nhóm nghiên cứu (A) | Nhóm chứng (B) |
| Trước điều trị | 25.11 | 24.61 |
| Sau điều trị | 5.11 | 25.92 |
Tác động lên Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh – PSQI
Bảng 4: Giá trị trung bình của Chỉ số Chất lượng Giấc ngủ Pittsburgh (PSQI) trước và sau điều trị ở nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng.
| Thời điểm | Nhóm nghiên cứu (A) | Nhóm chứng (B) |
| Trước điều trị | 17.17 | 15.78 |
| Sau điều trị | 3.11 | 15.67 |
Tác động lên Thang điểm gắng sức Borg
Bảng 5: Điểm trung bình thang đo Borg về mức độ gắng sức cảm nhận (thang đo Borg) ở nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng trước và sau điều trị.
| Thời điểm | Nhóm nghiên cứu (A) | Nhóm chứng (B) |
| Trước điều trị | 15.64 | 16.57 |
| Sau điều trị | 7.85 | 17.03 |
KẾT LUẬN
- Liệu pháp điện trị liệu tần số cao (high tone power therapy) dưới hình thức một chương trình phục hồi sinh lực toàn thân (whole-body vitalization program) áp dụng cho bệnh nhân mắc hội chứng hậu COVID-19 là một phương thức khả thi, hiệu quả và không xâm lấn.
- Phương pháp này mang lại sự cải thiện về khả năng vận động dưới mức tối đa (submaximal exercise capacity) và chất lượng cuộc sống; được thể hiện qua việc gia tăng quãng đường trong trắc nghiệm đi bộ 6 phút, đồng thời làm giảm mức độ mệt mỏi, cải thiện giấc ngủ và giảm điểm số khó thở chỉ trong 4 tuần mà không gây ra bất kỳ tác dụng phụ nào.
- Do đó, phương pháp điều trị này là một khái niệm mới và mang tính toàn diện trong phục hồi chức năng cho bệnh nhân mắc hội chứng hậu COVID-19.
Nguồn: gbo Medizintechnik AG
Dịch thuật: Đàm Văn Đạt

