Hiệu quả của Liệu pháp HiToP trong điều trị thoái hóa khớp háng giai đoạn sớm
BÀI TỔNG HỢP NGHIÊN CỨU
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH THOÁI HÓA KHỚP HÁNG BẰNG LIỆU PHÁP ENERGOTONOWA (HIGH TONE POWER THERAPY – HiToP)
Tổng hợp và trình bày lại từ luận án tiến sĩ của Arleta Obałkowska
“Leczenie energotonowe choroby zwyrodnieniowej stawu biodrowego” (Poznań, 2013)
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tính hữu ích lâm sàng của liệu pháp energotonowa (HiToP) trong điều trị bệnh thoái hóa khớp háng (ch.z.s.b.), đồng thời đánh giá ảnh hưởng của phương pháp này đối với đau, chức năng và tầm vận động khớp háng, sức mạnh cơ, khả năng thực hiện các hoạt động hằng ngày và các thay đổi cấu trúc trong khớp trên hình ảnh cộng hưởng từ (MRI).
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được thực hiện trên 30 bệnh nhân mắc thoái hóa khớp háng mức độ nhẹ đến vừa theo tiêu chuẩn American College of Rheumatology và các tiêu chí lựa chọn của nghiên cứu. Người bệnh được phân ngẫu nhiên thành nhóm nghiên cứu và nhóm chứng, mỗi nhóm 15 người. Thiết kế là thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, có nhóm chứng giả dược. Cả hai nhóm đều thực hiện chương trình bài tập phục hồi chức năng; nhóm nghiên cứu được điều trị t.e., còn nhóm chứng được mô phỏng thủ thuật t.e. cùng chương trình bài tập. Can thiệp gồm 3 chu kỳ, mỗi chu kỳ 10 buổi. Đánh giá lâm sàng bằng VAS, SFTR và Lovett được thực hiện 8 lần; OFC 5 lần; MRI 2 lần.
Kết quả: Các giá trị ban đầu của hai nhóm tương đối đồng nhất. Mức đau VAS toàn bộ giảm rõ ở nhóm nghiên cứu, từ 56 mm trước điều trị xuống 9 mm sau 30 buổi và vẫn ở mức 9 mm sau một tháng; nhóm chứng giảm từ 46 mm xuống 32 mm sau 30 buổi nhưng tăng trở lại 38 mm sau một tháng. Khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa từ sau 10 buổi điều trị (p=0,002). Tầm vận động toàn bộ khớp háng tăng từ 180° lên 212° ở nhóm nghiên cứu, có ý nghĩa thống kê (p=0,000), trong khi nhóm chứng tăng từ 164° lên 181° nhưng không có ý nghĩa thống kê (p=0,11). Sức mạnh cơ tăng dần, với khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa từ các thời điểm sớm trong quá trình điều trị. Chức năng theo OFC cải thiện rõ rệt: kết quả tích cực toàn cục tăng từ 10,72% lên 93,71% sau chu kỳ III và 96,25% sau một tháng ở nhóm nghiên cứu, so với 13,43% lên 54,59% và 51,47% ở nhóm chứng. Trên MRI, thay đổi độ dày/sự rộng khe khớp không có ý nghĩa thống kê; tuy nhiên lượng dịch khớp tăng giảm có ý nghĩa trong nhóm nghiên cứu, và diện tích phù tủy xương cũng giảm ở nhóm này.
Kết luận: Theo kết luận của tác giả, liệu pháp energotonowa (HiToP) kết hợp với kinezyterapia (vận động trị liệu) có hiệu quả đối với các triệu chứng giai đoạn đầu của thoái hóa khớp háng, đặc biệt về đau, tầm vận động, sức mạnh cơ và khả năng tự thực hiện các hoạt động hằng ngày; đồng thời có liên quan với sự giảm một số thay đổi trong cấu trúc nội khớp trên MRI.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong luận án, tác giả đặt vấn đề từ thực tế bệnh thoái hóa khớp háng là một quá trình tiến triển, có thể dẫn đến phá hủy bề mặt khớp và gây hạn chế chức năng đáng kể. Đáng chú ý, những biểu hiện đầu tiên của bệnh ngày càng được ghi nhận ở nhóm tuổi trung niên. Đau và giảm chức năng khớp háng không chỉ ảnh hưởng đến khả năng vận động mà còn làm giảm mức độ độc lập trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.
Theo lập luận của tác giả, bên cạnh các biến đổi cấu trúc tại khớp, bệnh còn liên quan đến sự thay đổi cân bằng cơ quanh khớp và những rối loạn trong kiểu vận động. Một số nhóm cơ có xu hướng tăng trương lực, trong khi các nhóm cơ khác bị suy yếu; điều này có thể góp phần làm thay đổi kiểm soát vận động của vùng thắt lưng – chậu – háng.
Trong bối cảnh cần tìm kiếm các phương pháp điều trị không xâm lấn, tác giả lựa chọn liệu pháp energotonowa (HiToP), một phương thức thuộc nhóm điện trị liệu, làm đối tượng nghiên cứu. Luận án nhấn mạnh rằng số lượng công trình nghiên cứu về phương pháp này tại thời điểm thực hiện còn hạn chế, vì vậy cần tiếp tục đánh giá hiệu quả bằng các công cụ khách quan hơn, bao gồm cả đánh giá lâm sàng, chức năng và hình ảnh học.
Điểm quan trọng của nghiên cứu là không chỉ xem xét sự thay đổi triệu chứng đau mà còn đặt câu hỏi liệu can thiệp có tạo ra thay đổi về chức năng khớp, sức mạnh cơ, khả năng thực hiện hoạt động hằng ngày và các cấu trúc nội khớp quan sát được trên MRI hay không.
GIẢ THUYẾT VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Ba giả thuyết nghiên cứu được tác giả nêu gồm:
- Liệu pháp energotonowa (HiToP) làm giảm các triệu chứng đau ở giai đoạn đầu của thoái hóa khớp háng.
- Liệu pháp energotonowa (HiToP) có ảnh hưởng đến việc cải thiện chức năng khớp háng ở giai đoạn đầu của bệnh.
- Liệu pháp energotonowa (HiToP) có ảnh hưởng đến việc làm chậm các thay đổi thoái hóa của sụn khớp háng.
Mục tiêu chính là xác định tính hữu ích lâm sàng của liệu pháp energotonowa trong điều trị thoái hóa khớp háng. Các mục tiêu cụ thể gồm:
- Đánh giá ảnh hưởng của liệu pháp energotonowa (HiToP) lên các triệu chứng lâm sàng và chức năng khớp háng.
- Đánh giá ảnh hưởng lên các cấu trúc nội khớp bị biến đổi trong thoái hóa khớp háng trên MRI.
- Đánh giá ảnh hưởng lên các thay đổi cấu trúc của sụn khớp.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Thiết kế nghiên cứu và đối tượng
Nghiên cứu bao gồm 30 người bệnh được chẩn đoán thoái hóa khớp háng mức độ nhẹ và vừa theo tiêu chuẩn American College of Rheumatology và các tiêu chí lựa chọn của nghiên cứu. Người bệnh được phân ngẫu nhiên thành hai nhóm, mỗi nhóm 15 người: nhóm I – nhóm nghiên cứu và nhóm II – nhóm chứng. Luận án mô tả đây là một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có nhóm chứng “placebo”, được tiến hành theo phương pháp thử nghiệm đóng.
Các tiêu chí lựa chọn được nêu trong luận án gồm:
- Thoái hóa khớp háng dạng vô căn.
- Tuổi 45–65.
- Có phim X-quang khớp háng tư thế trước – sau.
- Thoái hóa mức độ nhẹ hoặc vừa: độ 1–2 theo Altman và độ 1–2 theo IRF.
- Mức độ đau trong tháng trước điều trị theo VAS >25 mm.
- BMI 18,5–34.
- Không đồng thời sử dụng các phương pháp vật lý trị liệu khác.
- Không có chống chỉ định về sức khỏe đối với điện trị liệu.
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 39.
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
| Biến số | Toàn bộ
(n=30) |
Nhóm nghiên cứu (n=15) | Nhóm chứng
(n=15) |
| Tuổi, năm; TB ± SD | 56,77 ± 4,86 | 55,67 ± 5,50 | 57,87 ± 4,01 |
| Chiều cao, cm; TB ± SD | 170,23 ± 10,27 | 170,07 ± 11,28 | 170,40 ± 9,56 |
| Khối lượng, kg; TB ± SD | 79,23 ± 15,11 | 77,07 ± 14,11 | 81,40 ± 16,24 |
| BMI; TB ± SD | 27,02 ± 3,46 | 26,24 ± 3,34 | 27,79 ± 3,50 |
| Nữ | — | 9 | 7 |
| Nam | — | 6 | 8 |
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 39–40.
Hai nhóm không khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi (p=0,221), chiều cao (p=0,931), khối lượng cơ thể (p=0,441), BMI (p=0,486) và giới (p=0,55). Tác giả xem sự tương đồng này là cơ sở hỗ trợ tính hợp lý của việc phân nhóm. Trong suốt nghiên cứu, người bệnh không sử dụng thuốc giảm đau.
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 40.
Can thiệp điều trị
Liệu pháp energotonowa (HiToP) được thực hiện bằng thiết bị HiToP®184. Chương trình SimulFAM®i sử dụng dòng điện tần số trung bình trong khoảng 4.096–32.768 Hz, với khả năng điều biến đồng thời tần số và biên độ. Mỗi buổi điều trị kéo dài 60 phút.
Ứng dụng điều trị gồm hai phần. Phần thứ nhất tác động tại vùng đai chậu, với điện cực được đặt trên da ở mặt ngoài đùi vùng mấu chuyển. Phần thứ hai sử dụng chương trình SimulFAM®i cho toàn cơ thể, với các vị trí điện cực tại mặt gan chân hai bàn chân, mặt sau cẳng tay và vùng cột sống ngực.

Hình 1. Sơ đồ bố trí điện cực trong liệu pháp energotonowa ở bệnh nhân thoái hóa khớp háng (Ryc.7 của luận án).
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 46.
Cả hai nhóm đều thực hiện cùng một chương trình bài tập phục hồi chức năng, bao gồm bài tập chủ động có trợ lực cho hai khớp háng trong mặt phẳng đứng dọc và đứng ngang bằng hệ thống treo, 10 phút cho mỗi mặt phẳng, và đạp xe tại chỗ 10 phút. Nhóm nghiên cứu nhận t.e. thực, trong khi nhóm chứng được mô phỏng thủ thuật t.e. và thực hiện cùng chương trình bài tập.
Lịch điều trị gồm 3 chu kỳ, mỗi chu kỳ 10 buổi, thực hiện từ thứ Hai đến thứ Sáu; sau 5 buổi có nghỉ 2 ngày, sau chu kỳ thứ nhất và thứ hai có khoảng nghỉ 2 tuần.
Các biến số và lịch đánh giá
| Nhóm đánh giá | Công cụ | Số lần đánh giá | Thời điểm |
| Lâm sàng | VAS; SFTR; Lovett | 8 | Trước điều trị; giữa và cuối mỗi chu kỳ; 1 tháng sau điều trị |
| Chức năng | OFC | 5 | Trước điều trị; cuối mỗi chu kỳ; 1 tháng sau điều trị |
| Hình ảnh | MRI | 2 | Trước điều trị và 1 tháng sau điều trị |
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 120–121.
VAS được đo trên đường thẳng ngang 100 mm không chia vạch, người bệnh tự đánh dấu mức độ đau và kết quả được xác định bằng khoảng cách tính theo milimét từ đầu thang đo đến vị trí đánh dấu. Tầm vận động được đo bằng goniometer theo phương pháp SFTR, ghi nhận các động tác gấp, duỗi, dạng, khép, xoay ngoài và xoay trong. Người thực hiện đo được làm mù về việc người bệnh thuộc nhóm nghiên cứu hay nhóm chứng.
Đánh giá MRI được thực hiện hai lần. Các nội dung quan sát gồm chiều rộng khe khớp, các thay đổi tạo xương, thay đổi phá hủy, lượng dịch khớp và phù tủy xương. Trong đánh giá dịch khớp, luận án quy ước lớp dịch dày >1 mm trên hình STIR là tăng lượng dịch; phù tủy được đo trên mặt phẳng trán và biểu diễn dưới dạng diện tích.
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 50–56.
Phân tích thống kê
Theo luận án, thống kê mô tả được lựa chọn phù hợp với thang đo. Với biến liên tục, tác giả sử dụng trung bình cộng, độ lệch chuẩn và các giá trị tối thiểu/tối đa; với biến thứ bậc, sử dụng trung vị và giá trị tối thiểu/tối đa. Sau khi kiểm tra phân phối chuẩn bằng Kolmogorov–Smirnov, các phép kiểm t-Student cho mẫu độc lập hoặc mẫu ghép đôi được sử dụng cho biến liên tục; Mann–Whitney U và Wilcoxon cho biến thứ bậc. Yếu tố thời gian được đưa vào phân tích đối với các thông số được theo dõi lặp lại.
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 56–57.
KẾT QUẢ
Đau – kết quả VAS
Đau là chỉ tiêu cho thấy sự khác biệt nổi bật nhất giữa hai nhóm. Trước điều trị, mức VAS trung bình của nhóm nghiên cứu là 56 mm và nhóm chứng là 46 mm; khác biệt ban đầu không có ý nghĩa thống kê (p=0,081). Sau 10 buổi đầu tiên, VAS giảm xuống 21 mm ở nhóm nghiên cứu nhưng vẫn 38 mm ở nhóm chứng; khi đó khác biệt giữa hai nhóm đạt p=0,002.
| Thời điểm | Nhóm nghiên cứu
TB ± SD (mm) |
Nhóm chứng
TB ± SD (mm) |
| Trước chu kỳ I | 56 ± 20 | 46 ± 17 |
| Sau 5 buổi chu kỳ I | 32 ± 19 | 39 ± 18 |
| Sau 10 buổi chu kỳ I | 21 ± 13 | 38 ± 22 |
| Sau 5 buổi chu kỳ II | 16 ± 13 | 35 ± 22 |
| Sau 10 buổi chu kỳ II | 13 ± 11 | 33 ± 22 |
| Sau 5 buổi chu kỳ III | 12 ± 12 | 33 ± 23 |
| Sau 10 buổi chu kỳ III | 9 ± 12 | 32 ± 21 |
| 1 tháng sau chu kỳ III | 9 ± 14 | 38 ± 20 |
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 61.

Hình 2. Diễn tiến VAS của nhóm nghiên cứu và nhóm chứng (Ryc.8 của luận án).
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 60.
| Thời điểm | p VAS [mm] | p VAS [0–4] |
| Trước chu kỳ I | 0,081 | 0,081 |
| Sau 5 buổi chu kỳ I | 0,212 | 0,197 |
| Sau 10 buổi chu kỳ I | 0,002 | 0,017 |
| Sau 5 buổi chu kỳ II | 0,001 | 0,001 |
| Sau 10 buổi chu kỳ II | 0,000 | 0,002 |
| Sau 5 buổi chu kỳ III | 0,000 | 0,002 |
| Sau 10 buổi chu kỳ III | 0,000 | 0,000 |
| 1 tháng sau chu kỳ III | 0,000 | 0,000 |
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 59.
Ở chỉ số đau đi kèm vận động toàn bộ khớp háng, nhóm nghiên cứu giảm từ 200 mm xuống 39 mm, tương đương giảm 80%, với p=0,000; nhóm chứng giảm từ 185 mm xuống 140 mm, tương đương 24%, với p=0,154. Tác giả cũng ghi nhận rằng các động tác khép, dạng, xoay trong và gấp có mức đau ban đầu cao hơn và đạt hiệu quả giảm đau rõ ở cuối điều trị.
Tầm vận động khớp háng – SFTR
| Chỉ số | Trước điều trị
TB ± SD |
Sau 30 buổi
TB ± SD |
p trong nhóm |
| Tổng vận động – nhóm nghiên cứu | 180° ± 25° | 212° ± 22° | 0,000 |
| Tổng vận động – nhóm chứng | 164° ± 42° | 181° ± 34° | 0,11 |
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 78.
Ở nhóm nghiên cứu, tất cả các giá trị góc của các vận động được quan sát đều tăng. Mức tăng nổi bật nhất được tác giả ghi nhận ở duỗi (22%), khép (17%), xoay trong (13%) và gấp (11%). Cải thiện duy trì đến đánh giá cuối, ngoại trừ động tác duỗi có p=0,052 tại đánh giá cuối và xoay ngoài không cho thấy thay đổi có ý nghĩa thống kê.
Kết quả này cho thấy hiệu quả của can thiệp không chỉ biểu hiện ở giảm đau mà còn đi cùng với sự cải thiện khả năng vận động chủ động của khớp háng. Tuy nhiên, theo thiết kế nghiên cứu, cả hai nhóm đều được tập phục hồi chức năng; vì vậy các kết quả được diễn giải trong luận án là hiệu quả của t.e. kết hợp với kinezyterapia, chứ không phải tác động của t.e. đơn độc.
Sức mạnh cơ theo Lovett
Trước điều trị, hai nhóm không khác biệt về sức mạnh cơ. Sau điều trị, sức mạnh cơ tăng dần trong quá trình thực hiện các chu kỳ. Khác biệt giữa hai nhóm bắt đầu xuất hiện sau các thời điểm tương đối sớm và duy trì đến cuối điều trị đối với phần lớn các cơ được đánh giá.
| Thời điểm | p – sức mạnh cơ toàn bộ |
| Trước chu kỳ I | 0,090 |
| Sau 5 buổi chu kỳ I | 0,024 |
| Sau 10 buổi chu kỳ I | 0,000 |
| Sau 5 buổi chu kỳ II | 0,000 |
| Sau 10 buổi chu kỳ II | 0,000 |
| Sau 5 buổi chu kỳ III | 0,000 |
| Sau 10 buổi chu kỳ III | 0,000 |
| 1 tháng sau chu kỳ III | 0,000 |
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 84.
Đối với các cơ riêng lẻ, khác biệt có ý nghĩa xuất hiện sớm hơn đối với cơ mông lớn, cơ mông nhỡ và cơ tứ đầu đùi; đối với cơ thắt lưng–chậu xuất hiện từ sau 5 buổi của chu kỳ II; đối với nhóm cơ khép đùi xuất hiện sau 10 buổi của chu kỳ II. Luận án ghi nhận rằng đối với phần lớn các cơ, sự khác biệt giữa hai nhóm tiếp tục duy trì đến cuối điều trị.
Trong nhóm nghiên cứu, mức đau khi thực hiện test sức mạnh cơ cũng giảm dần. Mức giảm được báo cáo lần lượt là 23 mm đối với cơ thắt lưng–chậu, 25 mm đối với cơ mông lớn, 31 mm đối với cơ mông nhỡ, 14 mm đối với cơ tứ đầu đùi và 30 mm đối với nhóm cơ khép đùi.
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 74.
Chức năng và mức độ độc lập – OFC
Đánh giá OFC cho thấy sự cải thiện chức năng rõ hơn ở nhóm nghiên cứu và có xu hướng tiếp tục duy trì sau khi kết thúc điều trị. Bốn lĩnh vực được phân tích gồm di chuyển, đi vệ sinh, mặc quần áo và vệ sinh cá nhân.
| Lĩnh vực |
Nhóm |
Trước điều trị | Sau chu kỳ I | Sau chu kỳ II | Sau chu kỳ III | 1 tháng sau |
| Di chuyển | Nghiên cứu | 22,92% | 42,70% | 86,61% | 98,20% | 99,03% |
| Di chuyển | Chứng | 24,41% | 34,25% | 55,98% | 67,23% | 69,23% |
| Đi vệ sinh | Nghiên cứu | 13,33% | 40,00% | 93,33% | 100% | 100% |
| Đi vệ sinh | Chứng | 20,00% | 20,00% | 53,33% | 80% | 80% |
| Mặc quần áo | Nghiên cứu | 6,66% | 16,67% | 56,00% | 86,66% | 89,33% |
| Mặc quần áo | Chứng | 6,00% | 7,33% | 14,00% | 24,66% | 23,33% |
| Vệ sinh cá nhân | Nghiên cứu | 0% | 6,67% | 76,66% | 90,00% | 96,66% |
| Vệ sinh cá nhân | Chứng | 3,33% | 3,33% | 23,33% | 46,47% | 33,33% |
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 86.
| Chỉ số OFC | Nhóm nghiên cứu | Nhóm chứng |
| Kết quả tích cực toàn cục – trước điều trị | 10,72% | 13,43% |
| Kết quả tích cực toàn cục – sau chu kỳ III | 93,71% | 54,59% |
| Kết quả tích cực toàn cục – 1 tháng sau | 96,25% | 51,47% |
| Cải thiện từ lần 1 đến lần 4 | 82,99% | 41,16% |
| Cải thiện từ lần 1 đến lần 5 | 85,53% | 38,04% |
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 88.
|
Lĩnh vực |
Chênh lệch cải thiện giữa hai nhóm, lần 1 → lần 4 |
| Di chuyển | 32,46% |
| Đi vệ sinh | 26,67% |
| Mặc quần áo | 61,34% |
| Vệ sinh cá nhân | 46,86% |
| Trung bình | 41,83% |
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 87–88.
Một điểm đáng chú ý là ở lần đánh giá cuối, nhóm nghiên cứu có 3,75% câu trả lời âm tính về khả năng thực hiện các nhiệm vụ cá nhân hóa, so với 50,89% ở nhóm chứng. Luận án cũng ghi nhận không có bệnh nhân nào bị xấu đi về chức năng; tỷ lệ không cải thiện là khoảng 6% ở nhóm nghiên cứu so với 54% ở nhóm chứng.
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 89.
Hình ảnh MRI
MRI được thực hiện trước điều trị và một tháng sau khi hoàn thành chu kỳ III. Các cấu trúc và dấu hiệu được quan sát bao gồm chiều rộng khe khớp, thay đổi tạo xương, thay đổi phá hủy, dịch khớp và phù tủy xương.
Đối với chiều rộng khe khớp – được sử dụng như chỉ số tổng hợp liên quan đến độ dày sụn khớp của chỏm xương đùi và ổ cối – nghiên cứu ghi nhận một số thay đổi theo hướng tăng ở nhóm nghiên cứu. Luận án mô tả mức tăng trung bình khoảng 0,2 mm ở các khu vực, lớn nhất ở khu vực phía sau của chỏm xương đùi và ổ cối, nhỏ nhất ở khu vực trước–trong. Tuy nhiên, các thay đổi này không đạt ý nghĩa thống kê.
|
Mặt phẳng / sector |
MRI 1 nhóm nghiên cứu (mm) | MRI 2 nhóm nghiên cứu (mm) | Chênh lệch (mm) |
| Đứng dọc – I | 1,65 ± 0,41 | 1,73 ± 0,42 | +0,08 |
| Đứng dọc – II | 1,73 ± 0,41 | 1,67 ± 0,42 | −0,06 |
| Đứng dọc – III | 1,48 ± 0,30 | 1,54 ± 0,24 | +0,07 |
| Đứng dọc – IV | 1,59 ± 0,26 | 1,73 ± 0,33 | +0,13 |
| Đứng ngang – I | 2,14 ± 0,58 | 2,38 ± 0,81 | +0,24 |
| Đứng ngang – II | 2,12 ± 0,48 | 2,27 ± 0,40 | +0,15 |
| Đứng ngang – III | 1,83 ± 0,31 | 1,95 ± 0,40 | +0,12 |
| Đứng ngang – IV | 1,70 ± 0,34 | 1,90 ± 0,38 | +0,20 |
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 90.
Phân tích thay đổi tạo xương và thay đổi phá hủy không cho thấy khác biệt có ý nghĩa về kích thước hoặc vị trí sau điều trị. Các thay đổi thường được quan sát gồm xơ hóa trần ổ cối, vôi hóa, geode, dày bờ chỏm xương đùi và bờ chỏm sắc.
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 92.
Dịch khớp
Tăng lượng dịch khớp được ghi nhận ở 17 khớp háng của nhóm nghiên cứu và 17 khớp háng của nhóm chứng. Trước điều trị, hai nhóm khác biệt có ý nghĩa (p=0,029), với giá trị trung bình cao hơn ở nhóm nghiên cứu. Sau điều trị, lượng dịch ở hai nhóm trở nên tương đương.
|
Đánh giá |
Nhóm nghiên cứu TB ± SD (mm) | Nhóm chứng TB ± SD (mm) | p giữa nhóm |
| MRI lần 1 | 3,66 ± 1,8068 | 2,70 ± 1,2106 | 0,029 |
| MRI lần 2 | 2,83 ± 1,3107 | 2,82 ± 1,3890 | 0,963 |
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 93.
Khi so sánh trong từng nhóm, nhóm nghiên cứu có giảm lượng dịch khớp có ý nghĩa thống kê (p=0,000), trong khi nhóm chứng không có khác biệt có ý nghĩa (p=0,096). Luận án đồng thời ghi nhận có tương quan giữa lượng dịch khớp tăng và cường độ đau.
Phù tủy xương
Phù tủy xương được quan sát ở vùng chỏm xương đùi và trần ổ cối, xuất hiện ở khoảng một nửa số người tham gia. Trước điều trị, khác biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê (p=0,230). Sau điều trị, diện tích phù trung bình giảm ở nhóm nghiên cứu nhưng không giảm tương tự ở nhóm chứng; khác biệt giữa hai nhóm ở lần MRI thứ hai vẫn không đạt ý nghĩa thống kê (p=0,552).
|
Thời điểm MRI |
Nhóm nghiên cứu TB ± SD (mm²) | Nhóm chứng TB ± SD (mm²) | p giữa nhóm |
| MRI lần 1 | 335,21 ± 351,6817 | 202,81 ± 226,2177 | 0,230 |
| MRI lần 2 | 275,76 ± 315,5063 | 215,77 ± 215,5503 | 0,552 |
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 94.
Như vậy, kết quả MRI cần được diễn giải thận trọng: nghiên cứu cho thấy tín hiệu thuận lợi rõ hơn đối với lượng dịch khớp và diện tích phù tủy xương, trong khi thay đổi về chiều rộng khe khớp/độ dày sụn và các thay đổi tạo – phá hủy không đạt ý nghĩa thống kê. Do đó, không nên diễn giải kết quả MRI của nghiên cứu như bằng chứng về tái tạo sụn.
BÀN LUẬN
Kết quả nổi bật nhất của nghiên cứu là sự giảm đau. VAS toàn bộ giảm từ 56 xuống 9 mm ở nhóm nghiên cứu, trong khi nhóm chứng giảm từ 46 xuống 32 mm. Quan trọng hơn, khác biệt giữa hai nhóm xuất hiện sau 10 buổi đầu tiên (p=0,002) và tiếp tục duy trì trong các giai đoạn sau. Tác giả nhấn mạnh rằng mức giảm đau lớn nhất có ý nghĩa xảy ra sau 10 buổi điều trị đầu tiên, phù hợp với nhận định về thời điểm xuất hiện hiệu quả giảm đau trong quá trình điều trị.
Một đặc điểm đáng chú ý khác là độ bền của đáp ứng. Sau một tháng, nhóm nghiên cứu vẫn duy trì VAS trung bình 9 mm, trong khi nhóm chứng tăng từ 32 lên 38 mm. Chính sự khác biệt ở giai đoạn theo dõi sau điều trị làm cho kết quả không chỉ thể hiện một đáp ứng tức thời trong thời gian can thiệp mà còn cho thấy sự khác biệt về xu hướng duy trì hiệu quả giữa hai nhóm trong thời gian quan sát của nghiên cứu.
Sự cải thiện tầm vận động bổ sung cho kết quả giảm đau. Tổng biên độ vận động ở nhóm nghiên cứu tăng 17,3%, từ 180° lên 212°, và thay đổi có ý nghĩa thống kê. Ở nhóm chứng, mức tăng là 10,8%, từ 164° lên 181°, nhưng không có ý nghĩa thống kê. Các động tác duỗi, khép, xoay trong và gấp là những vận động có mức tăng nổi bật ở nhóm nghiên cứu.
Kết quả về sức mạnh cơ cho thấy hiệu quả không chỉ giới hạn ở cảm nhận đau. Sự gia tăng sức mạnh diễn ra tuần tự trong các chu kỳ điều trị, với khác biệt giữa hai nhóm xuất hiện sớm ở một số nhóm cơ và được duy trì ở phần lớn các cơ. Trong bối cảnh cả hai nhóm cùng thực hiện bài tập, sự khác biệt này được luận án sử dụng để ủng hộ vai trò bổ sung của t.e. trong chương trình điều trị kết hợp.
OFC cung cấp một góc nhìn thực tế hơn về ý nghĩa chức năng. Kết quả tích cực toàn cục ở nhóm nghiên cứu tăng từ 10,72% lên 93,71% sau chu kỳ III và 96,25% sau một tháng. Đặc biệt, lĩnh vực “mặc quần áo” có chênh lệch cải thiện giữa hai nhóm 61,34%, còn “vệ sinh” là 46,86%. Điều này cho thấy thay đổi không chỉ thể hiện qua các thang đo lâm sàng mà còn ở khả năng thực hiện những hoạt động cụ thể trong đời sống.
Đối với MRI, kết quả có tính chất phân biệt. Tác giả ghi nhận thay đổi về chiều rộng khe khớp ở nhóm nghiên cứu nhưng không đạt ý nghĩa thống kê. Ngược lại, lượng dịch khớp giảm có ý nghĩa thống kê trong nhóm nghiên cứu, từ 3,66 mm xuống 2,83 mm, trong khi nhóm chứng gần như không thay đổi. Diện tích phù tủy xương cũng giảm ở nhóm nghiên cứu từ 335,21 xuống 275,76 mm², mặc dù khác biệt giữa hai nhóm ở MRI lần hai không đạt ý nghĩa thống kê.
Vì vậy, phần hình ảnh học không nên được trình bày như một bằng chứng mạnh về phục hồi sụn. Cách diễn giải phù hợp với luận án là: các dữ liệu MRI cho thấy một số thay đổi thuận lợi tại các cấu trúc nội khớp, nổi bật nhất là giảm dịch khớp và giảm diện tích phù tủy xương ở nhóm nghiên cứu, trong khi thay đổi sụn/khe khớp chưa đạt ngưỡng ý nghĩa thống kê.
Một điểm mạnh về thiết kế là nghiên cứu sử dụng phân nhóm ngẫu nhiên, mù đôi và nhóm chứng mô phỏng; hai nhóm có các đặc điểm nhân trắc tương đồng và không dùng thuốc giảm đau trong quá trình nghiên cứu. Việc sử dụng đồng thời các đánh giá VAS, SFTR, Lovett, OFC và MRI tạo nên cách tiếp cận đa chiều, cho phép đối chiếu giữa triệu chứng, vận động, sức mạnh, chức năng và cấu trúc.
Tuy nhiên, chính từ nội dung luận án có thể thấy cần thận trọng khi quy kết toàn bộ thay đổi cho t.e. đơn độc, bởi cả hai nhóm đều được tập luyện phục hồi chức năng. Vì vậy, kết luận thích hợp nhất là hiệu quả của phác đồ kết hợp t.e. và kinezyterapia (vận động trị liệu) ở bệnh nhân thoái hóa khớp háng giai đoạn nhẹ–vừa, trong khuôn khổ mẫu nghiên cứu và thời gian theo dõi đã được thực hiện.
KẾT LUẬN
- Liệu pháp energotonowa (HiToP) được tác giả xác định là một phương pháp có hiệu quả trong điều trị các triệu chứng ban đầu của thoái hóa khớp háng.
- Liệu pháp energotonowa (HiToP) kết hợp với kinezyterapia (vận động trị liệu) làm giảm đau, cải thiện tầm vận động khớp háng và tăng sức mạnh các cơ tham gia vận động khớp háng và khớp gối.
- Phác đồ kết hợp này làm tăng mức độ độc lập của người bệnh trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.
- Trên MRI, nghiên cứu ghi nhận giảm lượng dịch khớp có ý nghĩa thống kê và giảm diện tích phù tủy xương ở nhóm nghiên cứu; thay đổi về chiều rộng khe khớp/độ dày sụn và các thay đổi tạo – phá hủy không đạt ý nghĩa thống kê.
- Theo tác giả, liệu pháp energotonowa (HiToP) có thể được xem là một lựa chọn thay thế cho điều trị dược lý triệu chứng đau ở bệnh nhân thoái hóa khớp háng giai đoạn sớm; kết luận này được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu đã thực hiện.
TÓM TẮT CÁC SỐ LIỆU QUAN TRỌNG
|
Chỉ tiêu |
Nhóm nghiên cứu | Nhóm chứng | Ý nghĩa chính |
| VAS toàn bộ, trước → sau 30 buổi | 56 → 9 mm | 46 → 32 mm | Khác biệt giữa nhóm sau 10 buổi: p=0,002 |
| VAS sau 1 tháng | 9 mm | 38 mm | Duy trì đáp ứng tốt hơn ở nhóm nghiên cứu |
| Vận động toàn bộ | 180° → 212° | 164° → 181° | p trong nhóm: 0,000 vs 0,11 |
| OFC tích cực toàn cục, trước → sau chu kỳ III | 10,72% → 93,71% | 13,43% → 54,59% | Cải thiện 82,99% vs 41,16% |
| OFC tích cực toàn cục, 1 tháng | 96,25% | 51,47% | Cải thiện 85,53% vs 38,04% |
| Dịch khớp MRI | 3,66 → 2,83 mm | 2,70 → 2,82 mm | p trong nhóm nghiên cứu = 0,000 |
| Phù tủy MRI | 335,21 → 275,76 mm² | 202,81 → 215,77 mm² | Xu hướng giảm ở nhóm nghiên cứu; p giữa nhóm MRI2 = 0,552 |
| Khe khớp/sụn | Có thay đổi nhỏ | Có thay đổi | Không đạt ý nghĩa thống kê |
Nguồn số liệu: Arleta Obałkowska, luận án tiến sĩ, Poznań, 2013, tr. 61, 78, 88, 93–94, 114, 119.
TÀI LIỆU NGUỒN
Obałkowska A. Leczenie energotonowe choroby zwyrodnieniowej stawu biodrowego. Rozprawa doktorska. Katedra i Klinika Ortopedii i Traumatologii Dziecięcej Uniwersytetu Medycznego w Poznaniu; Poznań, 2013.
Nguồn: gbo Medizintechnik AG
Dịch thuật & tổng hợp: Đàm Văn Đạt

