Liệu pháp trị liệu tần số cao (HiToP): Hiệu quả trên các vận động viên đội tuyển quốc gia bóng bầu dục xe lăn Đức
Liệu pháp trị liệu tần số cao (HiToP)
Hiệu quả trên các vận động viên đội tuyển quốc gia bóng bầu dục xe lăn Đức
GS. TS. KUNO HOTTENROTT – VIỆN CHẨN ĐOÁN THÀNH TÍCH VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE, ĐẠI HỌC MARTIN LUTHER HALLE-WITTENBERG
CHRISTOPH WERNER – HUẤN LUYỆN VIÊN TRƯỞNG BÓNG BẦU DỤC XE LĂN, HIỆP HỘI THỂ THAO NGƯỜI KHUYẾT TẬT ĐỨC
GS. BS. HANS-HERBERT VATER – BÁC SĨ THỂ THAO DBS, BÁC SĨ ĐỘI TUYỂN BÓNG BẦU DỤC XE LĂN, BAD WILDUNGEN

Sự cân bằng giữa tải và phục hồi là yếu tố thiết yếu để cải thiện thành tích thể thao. Quá trình tái tạo hiệu quả giúp tiến bộ liên tục và ngăn ngừa mệt mỏi kéo dài, suy giảm thành tích và tăng nguy cơ nhiễm trùng. Tối ưu hóa có mục tiêu quá trình phục hồi có thể đẩy nhanh các quá trình tái tạo, cho phép tăng tần suất tập luyện và tổng kích thích tập luyện, qua đó cải thiện sự phát triển thành tích lâu dài.
Liệu pháp trị liệu tần số cao (HiToP) là một dạng đặc biệt của điện trị liệu, trong đó biên độ (cường độ dòng điện) và tần số (từ 4.096 đến 32.768 Hz) được điều biến đồng thời. Tần số càng cao thì năng lượng có thể được cung cấp càng lớn, phù hợp với đường cong ngưỡng cảm nhận dòng điện của từng bệnh nhân. Phương pháp này đã được áp dụng trong thực hành lâm sàng nhiều năm và cho thấy các tác động tích cực, đặc biệt ở những bệnh lý thoái hóa như bệnh đa dây thần kinh [6, 7]. Các bằng chứng khác về hiệu quả đã được ghi nhận ở hội chứng đường hầm cổ chân [2], bệnh não do rối loạn tuần hoàn [8], rối loạn stress sau sang chấn và chấn thương sọ não [1].
Các nghiên cứu ban đầu trong khoa học thể thao cho thấy vài tuần điều trị High-Tone sau tập luyện sức mạnh cường độ cao dẫn đến cải thiện đáng kể sức mạnh tối đa và sức bền sức mạnh [4, 5]. Liệu những tác động này có chuyển sang khả năng vận động sức bền hay không là chủ đề của nghiên cứu hiện tại.
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG

Nghiên cứu sử dụng thiết kế ngẫu nhiên trước–sau với so sánh trong từng cá thể (within-subject design; bên tay: điều trị so với không điều trị). Ba phụ nữ (tuổi: 30,7 ± 16,0 năm; BMI: 22,4 ± 0,8 kg/m²) và bảy nam giới (tuổi: 31,3 ± 8,2 năm; BMI: 22,0 ± 2,8 kg/m²) thuộc Đội tuyển bóng bầu dục xe lăn quốc gia Đức tham gia nghiên cứu can thiệp kéo dài tám tuần.
Khả năng vận động sức bền được đánh giá đơn phương trên máy đo công suất quay tay bằng bài kiểm tra tăng dần tiêu chuẩn (tải ban đầu: 10 W; tăng 10 W sau mỗi 2 phút cho đến khi kiệt sức). Trước và sau mỗi giai đoạn vận động, nồng độ lactate và glucose được xác định từ máu mao mạch ở dái tai bằng phân tích ampe, đồng thời đo huyết áp; nhịp tim được ghi liên tục bằng dây đeo ngực và ECG (Hình 1).

THIẾT KẾ KIỂM TRA
Thứ tự kiểm tra tay phải và tay trái được phân ngẫu nhiên, sao cho năm người tham gia được kiểm tra tay phải trước và năm người kiểm tra tay trái trước. Giữa hai lần kiểm tra trước can thiệp có một giờ nghỉ thụ động. Sau tám tuần, các phép kiểm tra được lặp lại trong những điều kiện giống hệt; việc kiểm tra diễn ra cùng thời điểm trong ngày và theo cùng thứ tự như lần kiểm tra ban đầu.
CAN THIỆP
Điều trị High-Tone được thực hiện bằng thiết bị trị liệu HiToP® 1touch với tần số từ 4.096 đến 32.768 Hz và được điều khiển bằng chương trình SimulFAMi. Ngay sau bài kiểm tra ban đầu, nhân viên đã được đào tạo hướng dẫn người tham gia cách thực hiện điều trị và đặt các điện cực tiếp xúc bằng băng đàn hồi (Hình 2). Chi trên được điều trị được phân ngẫu nhiên: năm người điều trị tay phải và năm người điều trị tay trái. Việc điều trị do người tham gia tự thực hiện và được yêu cầu thực hiện 60 phút mỗi ngày bất cứ khi nào có thể. Mỗi người được cung cấp một thiết bị trị liệu trong toàn bộ thời gian can thiệp. Thời gian điều trị của từng người được lưu trong thiết bị.

ĐÁNH GIÁ DỮ LIỆU VÀ PHÂN TÍCH THỐNG KÊ
Phân tích thống kê được thực hiện bằng IBM SPSS Statistics (phiên bản 24). Số watt-phút tối đa đạt được được xác định là tiêu chí đánh giá chính. Nhịp tim, lactate, glucose và huyết áp được phân tích là các tiêu chí phụ. Các thay đổi được kiểm tra bằng phân tích phương sai đo lặp hai yếu tố (2 × 2), với hai yếu tố trong cùng đối tượng là thời gian (trước so với sau) và bên tay (được điều trị so với không điều trị).
Phân phối chuẩn của các điểm chênh lệch được đánh giá bằng kiểm định Shapiro-Wilk. Với hai mức cho mỗi yếu tố, giả định về tính cầu được đáp ứng. Khi có hiệu ứng tương tác có ý nghĩa, các phân tích hậu kiểm được thực hiện bằng paired t-test. Ngoài ra, kiểm định Wilcoxon signed-rank được sử dụng như một phép kiểm tra độ bền đối với các so sánh trước–sau trong từng bên tay. Mức ý nghĩa được đặt ở p < 0,05. Kích thước hiệu ứng được tính bằng eta bình phương riêng phần (η²p) đối với ANOVA và Cohen’s d đối với các so sánh từng cặp ở các mẫu phụ thuộc.
KẾT QUẢ
Một người tham gia dừng can thiệp do chấn thương; một vận động viên nữ khác chỉ có thể thực hiện bài kiểm tra sau can thiệp ở mức dưới tối đa. Vì vậy, tám người – sáu nam và hai nữ – được đưa vào phân tích. Đánh giá dữ liệu sử dụng được lưu trong chương trình SimulFAMi cho thấy thời gian áp dụng đơn phương trung bình mỗi ngày là 36,5 ± 16,3 phút.
Công đạt được trong bài kiểm tra tăng dần tăng trung bình 77,2 W·min sau khi bổ sung điều trị High-Tone ở bên được điều trị và 21,1 W·min ở bên không điều trị (xem Hình 3)


Phân tích phương sai và tính toán kích thước hiệu ứng cho thấy có tương tác có ý nghĩa giữa thời gian và bên tay, F(1,7) = 7,78, p = 0,014, η²p = 0,36. Điều này cho thấy sự thay đổi theo thời gian khác biệt có ý nghĩa giữa bên can thiệp và bên đối chứng, với hiệu ứng tương tác lớn.
Phân tích hậu kiểm cho thấy thành tích tăng có ý nghĩa ở bên được điều trị (p = 0,01; khoảng tin cậy 95%: 22,4 đến 131,8 W·min). Kết quả cũng vẫn có ý nghĩa khi áp dụng giả định phi tham số (Wilcoxon signed-rank test: p = 0,008). Ở bên đối chứng, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa phép đo trước và sau (p = 0,25). Nhịp tim, lactate, glucose và huyết áp cũng không cho thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa bên được điều trị và bên không điều trị.
THẢO LUẬN
Các kết quả hiện tại cho thấy việc bổ sung Liệu pháp trị liệu tần số cao (HiToP) trong quá trình tập luyện dẫn đến sự cải thiện khả năng vận động sức bền lớn hơn có ý nghĩa ở bên được điều trị so với bên không điều trị. Hiệu ứng tương tác quan sát được là lớn (η²p = 0,36), cho thấy ý nghĩa thực tiễn đáng kể.
Điều này ủng hộ vai trò của các quá trình tái tạo thông qua Liệu pháp trị liệu tần số cao (HiToP) với sự thích nghi nhanh hơn. Điều này có thể được giải thích, trong số các yếu tố khác, bởi sự cải thiện vi tuần hoàn, tăng tốc đào thải các sản phẩm chuyển hóa hoặc các tác động thần kinh–cơ, như cũng đã được mô tả trong các nghiên cứu về tập luyện sức mạnh.
Trái ngược với sự cải thiện thành tích, không quan sát thấy thay đổi có ý nghĩa ở các thông số sinh lý về nhịp tim, lactate, glucose hoặc huyết áp. Điều này cho thấy mức tăng thành tích quan sát được không chủ yếu được giải thích bởi sự thích nghi tim mạch hoặc chuyển hóa, mà có thể thay vào đó là do sự thích nghi ngoại biên hoặc thần kinh–cơ.
Các kết quả phù hợp với những nghiên cứu về tập luyện sức mạnh [3–5], nhưng lần đầu tiên mở rộng những phát hiện này sang khả năng vận động sức bền.
KẾT LUẬN
Tóm lại, nghiên cứu hiện tại cho thấy Liệu pháp trị liệu tần số cao (HiToP) được sử dụng kết hợp với tập luyện có thể cải thiện đáng kể khả năng vận động sức bền. Hiệu ứng tương tác lớn cho thấy một ảnh hưởng hỗ trợ có ý nghĩa đối với các quá trình thích nghi do tập luyện gây ra. Cần có các nghiên cứu tiếp theo với cỡ mẫu lớn hơn để làm rõ hiệu quả và các cơ chế đứng sau những tác động lên thành tích.
Nguồn: gbo Medizintechnik AG
Dịch thuật: Đàm Văn Đạt

