3

Tác động của kích thích từ trường ngoài cơ thể đối với chứng tiểu không tự chủ

Tác động của kích thích từ trường ngoài cơ thể đối với chứng tiểu không tự chủ

Tác động của kích thích từ trường ngoài cơ thể đối với chứng tiểu không tự chủ

Tác động của kích thích từ trường ngoài cơ thể đối với chứng tiểu không tự chủ: Tổng quan hệ thống và phân tích gộp

Tác giả:

  • Bác sĩ Wen-Hsuan Hou, Tiến sĩ, Thạc sĩ Y tế công cộng, Giáo sư và Bác sĩ điều trị 1,2

  • Điều dưỡng Pi-Chu Lin, Tiến sĩ Giáo dục, Thạc sĩ Điều dưỡng, Giáo sư 3

  • Điều dưỡng Pi-Hsia Lee, Tiến sĩ Giáo dục, Giáo sư 4

  • Bác sĩ Jeng-Cheng Wu, Thạc sĩ Khoa học, Bác sĩ điều trị 5,6

  • Bác sĩ Ting-En Tai, Bác sĩ 7

  • Điều dưỡng Su-Ru Chen, Tiến sĩ, Phó Giáo sư 8

Cơ quan công tác:

  • 1Khoa Vật lý trị liệu & Phục hồi chức năng, Trung tâm Y học Thực chứng, Bệnh viện Đại học Y khoa Đài Bắc, Đài Bắc, Đài Loan

  • 2Chương trình Thạc sĩ Chăm sóc Dài hạn, Trường Cao đẳng Điều dưỡng; Viện Nghiên cứu Lâm sàng Sau đại học, Trường Y khoa, Đại học Y khoa Đài Bắc, Đài Bắc, Đài Loan

  • 3Chương trình Thạc sĩ Chăm sóc Dài hạn, Trường Cao đẳng Điều dưỡng, Đại học Y khoa Đài Bắc, Đài Bắc, Đài Loan

  • 4Trường Điều dưỡng, Trường Cao đẳng Điều dưỡng, Đại học Y khoa Đài Bắc, Đài Bắc, Đài Loan

  • 5Khoa Tiết niệu, Khoa Giáo dục, Bệnh viện Đại học Y khoa Đài Bắc, Đài Bắc, Đài Loan

  • 6Khoa Tiết niệu, Trường Y khoa, Trường Cao đẳng Y khoa, Đại học Y khoa Đài Bắc, Đài Bắc, Đài Loan

  • 7Khoa Tiết niệu, Trung tâm Y học Thực chứng, Bệnh viện Đại học Y khoa Đài Bắc, Đài Bắc, Đài Loan

  • 8Chương trình Cử nhân Điều dưỡng văn bằng 2, Trường Cao đẳng Điều dưỡng, Đại học Y khoa Đài Bắc, Đài Bắc, Đài Loan

Địa chỉ thư tín: Su-Ru Chen, Chương trình Cử nhân Điều dưỡng văn bằng 2 và Trường Cao đẳng Điều dưỡng, Đại học Y khoa Đài Bắc, Đài Bắc 11031, Đài Loan. Email: suru@tmu.edu.tw

Thông tin tài trợ: Nghiên cứu này được hỗ trợ bởi các khoản tài trợ nghiên cứu từ Bộ Giáo dục (DP2-108-21121-01-A-01-01).

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của kích thích từ trường ngoài cơ thể trong điều trị chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức.

Thiết kế: Tổng quan hệ thống và phân tích gộp.

Nguồn dữ liệu: Bốn cơ sở dữ liệu điện tử từ khi khởi tạo đến ngày 18 tháng 5 năm 2019.

Phương pháp tổng quan: Hai tác giả độc lập thực hiện tìm kiếm, đánh giá chất lượng phương pháp luận và trích xuất dữ liệu. Các nghiên cứu cuối cùng được đưa vào phân tích được lựa chọn sau khi đạt được sự đồng thuận với tác giả thứ ba.

Kết quả: Tổng cộng có 20 nghiên cứu được đưa vào tổng quan hệ thống và 12 nghiên cứu trong số đó được đưa vào phân tích gộp. Đánh giá chất lượng cho thấy chỉ có 8 trong số 17 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng có nguy cơ sai lệch tổng thể thấp, trong khi tất cả các thử nghiệm có đối chứng đều có nguy cơ sai lệch nghiêm trọng. Cỡ hiệu ứng trung bình có trọng số của kích thích từ trường đối với chất lượng cuộc sống, số lần rò rỉ nước tiểu, kết quả thử nghiệm tấm lót (pad test) và số biến cố tiểu không tự chủ lần lượt là 1.045 (95% CI: 0.409–1.681), -0.411 (95% CI: 0.178–0.643), -0.290 (95% CI: 0.025–0.556), và -0.747 (95% CI: -1.122 đến -0.372). Phân tích dưới nhóm cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê tùy thuộc vào loại công cụ đo lường chất lượng cuộc sống được sử dụng. Các phân tích độ nhạy cho thấy mức độ dị hợp cao vẫn tiếp diễn ngay cả sau khi loại bỏ từng nghiên cứu riêng lẻ.

Kết luận: Kích thích từ trường ngoài cơ thể có thể hiệu quả trong điều trị tiểu không tự chủ và cải thiện chất lượng cuộc sống mà không gặp phải các vấn đề lớn về an toàn. Tuy nhiên, do mức độ dị hợp cao giữa các nghiên cứu, các suy luận từ kết quả phải được thực hiện một cách thận trọng.

Tác động: Chúng tôi khuyến nghị các điều dưỡng lâm sàng áp dụng kích thích từ trường ngoài cơ thể để điều trị chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức ở các bệnh nhân nữ và khuyến khích các nhà nghiên cứu tiến hành thêm các nghiên cứu định tính và định lượng để phát triển nội dung và liều lượng nhất quán cho can thiệp.

Đăng ký nghiên cứu: Đề cương nghiên cứu đã được đăng ký trước (a priori) và công bố trực tuyến trên cơ sở dữ liệu tổng quan hệ thống PROSPERO với mã số đăng ký #CRD42019138835.

Pi-Chu Lin, Pi-Hsia Lee, và Wen-Hsuan Hou đóng góp phần công sức ngang nhau trong bài báo này.

TỪ KHÓA: can thiệp lâm sàng, đội ngũ điều dưỡng lâm sàng, kích thích từ trường ngoài cơ thể, phân tích gộp, điều dưỡng, ngành điều dưỡng, chất lượng cuộc sống, thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, tổng quan hệ thống, tiểu không tự chủ.

1. GIỚI THIỆU

Tiểu không tự chủ là tình trạng nước tiểu bị rò rỉ ngoài ý muốn. Nó không chỉ hạn chế các hoạt động đời sống hàng ngày mà còn gây ra các vấn đề về xã hội và sức khỏe (Abrams và các cộng sự, 2003). Chứng tiểu không tự chủ phổ biến ở cả nam và nữ, nhưng tỷ lệ mắc ở nữ giới cao hơn do quá trình sinh nở. Tiểu không tự chủ ở phụ nữ gồm hai loại: không tự chủ khi gắng sức hoặc không tự chủ khẩn cấp. Hơn 20 triệu phụ nữ ở Hoa Kỳ được báo cáo là mắc chứng tiểu không tự chủ (Nygaard và các cộng sự, 2008). Komesu, Schrader, Ketai, Rogers, và Dunivan (2016) chỉ ra rằng có 19%–26% phụ nữ phải gánh chịu tình trạng này, với tỷ lệ lưu hành tăng dần theo tuổi tác. Ước tính cứ bốn phụ nữ trong độ tuổi 30–59 thì có một người từng trải qua tình trạng tiểu không tự chủ (Bölükbaş, Vural, Karan, Yalçin, & Eskiyurt, 2005). Tsai và Liu (2009) xác định rằng ở Đài Loan, tỷ lệ lưu hành chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức là 28.6% và tiểu không tự chủ hỗn hợp (gắng sức kèm khẩn cấp) là 24.5%. Chứng tiểu không tự chủ ở hầu hết nam giới phát sinh sau khi phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt tận căn điều trị ung thư tuyến tiền liệt, với tỷ lệ lưu hành khoảng 10%–20% (Sebesta, Cespedes, Luhman, Optenberg, & Thompson, 2002). Tiểu không tự chủ là một vấn đề sức khỏe phổ biến đối với cả nam và nữ, xứng đáng nhận được sự chú ý của các nhân viên y tế trên toàn thế giới.

1.1 Bối cảnh

Tại Hoa Kỳ, khoảng 16 tỷ USD được chi trả hàng năm cho việc điều trị tiểu không tự chủ, trong đó 13.2 tỷ USD dành cho chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức. Chi phí điều trị phát sinh này tiếp tục tăng cao (Anger, Saigal, Madison, Joyce, & Litwin, 2006; Wilson, Brown, Shin, Luc, & Subak, 2001). Tương tự, tại Đài Loan, số người trải qua phẫu thuật són tiểu tăng lên trong giai đoạn 1997–2011. Tỷ lệ này cao hơn ở người cao tuổi và chi phí y tế cho một ca phẫu thuật đã tăng từ 1.300–1.700 USD (Chang, Hsieh, Chiang, & Lee, 2017). Chi phí y tế ngày càng gia tăng khiến chứng tiểu không tự chủ trở thành một vấn đề nan giải.

Các chiến lược điều trị chứng tiểu không tự chủ bao gồm điều trị nội khoa, điều trị ngoại khoa, điều chỉnh hành vi và vật lý trị liệu. Điều trị ngoại khoa cải thiện tình trạng són tiểu ở khoảng 90% bệnh nhân; tuy nhiên, phương thức điều trị này có thể tiềm ẩn những rủi ro và biến chứng (Labrie và các cộng sự, 2013). Các kỹ thuật vật lý trị liệu như tập luyện cơ sàn chậu, kích thích điện và phản hồi sinh học (biofeedback) có hiệu quả đối với 60% cá nhân bị tiểu không tự chủ khi gắng sức. Ưu điểm của vật lý trị liệu là không xâm lấn, chi phí thấp và an toàn. Nhược điểm của nó là tiến trình chậm, tỷ lệ tuân thủ thấp và đòi hỏi sự kiên trì lâu dài (Greer, Arya, & Smith, 2013).

Trong gần hai thập kỷ qua, điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể (ExMI) đã trở thành một phương pháp điều trị chứng tiểu không tự chủ. ExMI là sự kết hợp giữa bài tập cơ sàn chậu và điều biến thần kinh. Các trường điện từ phân xung có thể xuyên qua các cơ sàn chậu và tăng cường sức mạnh của chúng bằng cách kích thích các dây thần kinh sàn chậu co thắt (Lim, Liong, Leong, Karim Khan, & Yuen, 2017; Pan và các cộng sự, 2018). ExMI không xâm lấn, không đau và là một phương pháp điều trị hiệu quả cho chứng tiểu không tự chủ với ít tác dụng phụ và ít lo ngại về quyền riêng tư hơn các phương pháp truyền thống (Lim và các cộng sự, 2017; Tsai và các cộng sự, 2014).

Theo một tổng quan hệ thống do Lim, Lee và các cộng sự (2015) thực hiện về hiệu quả của kích thích từ trường đối với chứng tiểu không tự chủ, mặc dù kích thích từ trường mang lại hiệu quả giảm nhẹ triệu chứng trong ngắn hạn, nhưng chưa có bằng chứng thuyết phục nào hỗ trợ hiệu quả dài hạn của phương pháp này được báo cáo. Shamliyan, Kane, Wyman, và Wilt (2008) tìm thấy các bằng chứng ở mức độ trung bình gợi ý rằng tập luyện cơ sàn chậu và huấn luyện bàng quang có thể giúp khắc phục chứng tiểu không tự chủ ở phụ nữ. Pan và các cộng sự (2018) đã tiến hành một phân tích gộp và tổng quan hệ thống về hiệu quả của kích thích từ trường trong điều trị rối loạn chức năng sàn chậu và nhận thấy chưa đủ bằng chứng. He và các cộng sự (2019) đã thực hiện một phân tích gộp và tổng quan hệ thống về hiệu quả của kích thích từ trường đối với chứng tiểu không tự chủ bao gồm 11 bài báo; tuy nhiên, kết quả bị giới hạn vì chỉ tìm kiếm các bài báo xuất bản đến tháng 8 năm 2018, đồng thời chỉ bao gồm các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) và các bài báo xuất bản bằng tiếng Anh. Một phân tích gộp và tổng quan hệ thống tương tự của Peng, Zeng, Shen, và Luo (2019) bao gồm bốn bài báo tiếng Anh xuất bản trước tháng 7 năm 2018. Kết quả sơ bộ của các phân tích này gợi ý rằng kích thích từ trường có thể cải thiện các triệu chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức. Tuy nhiên, hiệu quả của kích thích từ trường đối với chứng tiểu không tự chủ vẫn còn gây tranh cãi và các tổng quan hệ thống cùng phân tích gộp trước đây chưa bao gồm dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu tiếng Trung. Do đó, việc xác thực thêm hiệu quả của kích thích từ trường đối với chứng tiểu không tự chủ là cần thiết.

2. TIẾN HÀNH TỔNG QUAN

2.1 Mục tiêu

Nghiên cứu được tiến hành nhằm kiểm tra hiệu quả của điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể trong điều trị chứng tiểu không tự chủ.

2.2 Thiết kế

Chúng tôi đã tiến hành tổng quan tài liệu hệ thống, phân tích gộp và tổng hợp không qua phân tích gộp theo tuyên bố về Các mục báo cáo ưa thích cho tổng quan hệ thống và phân tích gộp (PRISMA) (Moher, Liberati, Tetzlaff, & Altman, 2009), và hướng dẫn báo cáo tổng hợp không qua phân tích gộp (SWiM; Campbell và các cộng sự, 2020). Đề cương tổng quan đã được đăng ký trước (a priori) và công bố trực tuyến trên cơ sở dữ liệu tổng quan hệ thống PROSPERO (mã số đăng ký #CRD42019138835).

2.3 Phương pháp tìm kiếm

2.3.1 Tiêu chí lựa chọn

Tiêu chí lựa chọn bao gồm các nghiên cứu có người tham gia từ ≥ 20 tuổi, được chẩn đoán mắc chứng tiểu không tự chủ và được điều trị bằng điều biến thần kinh từ trường ngoài cơ thể. Tác động của can thiệp đối với chất lượng cuộc sống (QoL) và tình trạng són tiểu được đánh giá bằng thang đo đo lường mức độ són tiểu dựa trên số lượng tấm lót/ngày, số lần rò rỉ/ngày, hoặc các biến cố són tiểu. Phân tích dữ liệu của các nghiên cứu RCT và thử nghiệm lâm sàng phải có đủ các thông số để tính toán cỡ hiệu ứng của từng thang đo QoL (nghĩa là giá trị trung bình, độ lệch chuẩn [SDs], chỉ số thống kê F hoặc t). Chúng tôi loại trừ các loại ấn phẩm sau: luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, triển lãm, bài trình bày, bài tổng quan, ấn phẩm trùng lặp, nghiên cứu trên động vật và các nghiên cứu chỉ có một nhánh can thiệp duy nhất.

2.3.2 Thuật ngữ tìm kiếm

Các cơ sở dữ liệu bao gồm PubMed (Medline), Thư viện Thử nghiệm có đối chứng Trung tâm Cochrane, CINAHL, Embase và cơ sở dữ liệu điện tử trực tuyến Airiti Library (CEPS) đã được tìm kiếm từ khi khởi tạo đến ngày 18 tháng 5 năm 2019. Các từ khóa tìm kiếm như sau: extracorporeal magnetic stimulation hoặc magnetic stimulation hoặc magnetic kết hợp với urinary incontinence. Ngoài ra, việc tìm kiếm bài báo trên Embase và CINAHL được giới hạn ở các nghiên cứu trên đối tượng người và các nghiên cứu RCT hoặc thử nghiệm lâm sàng đã xuất bản. Một tìm kiếm thủ công trong danh mục tài liệu tham khảo của các bài báo liên quan cũng đã được thực hiện (Bảng S1).

2.4 Kết quả tìm kiếm

Tiêu đề và tóm tắt của các nghiên cứu tìm được bằng chiến lược tìm kiếm và các nghiên cứu thu được từ các nguồn bổ sung đã được sàng lọc độc lập bởi hai tác giả tổng quan để xác định các nghiên cứu tiềm năng đáp ứng tiêu chí lựa chọn nêu trên. Toàn văn của các nghiên cứu có khả năng đủ điều kiện này đã được truy hồi và đánh giá độc lập bởi hai thành viên trong nhóm tổng quan (PCL và SRC). Bất kỳ sự bất đồng nào giữa các thành viên về tính đủ điều kiện của một nghiên cứu đều được giải quyết thông qua thảo luận với tác giả thứ ba (WHH).

2.5 Đánh giá chất lượng

Hai tác giả (PCL và PHL) đã đánh giá chất lượng của từng nghiên cứu được đưa vào theo công cụ Đánh giá nguy cơ sai lệch sửa đổi của Cochrane dành cho các thử nghiệm ngẫu nhiên (RoB 2.0) hoặc công cụ Nguy cơ sai lệch trong các nghiên cứu không ngẫu nhiên về can thiệp (ROBIN-I) đối với các trường hợp khác (Higgins và các cộng sự, 2011; Sterne và các cộng sự, 2016). Phương pháp Phân loại đánh giá, phát triển và thẩm định các khuyến nghị (GRADE) đã được sử dụng để đánh giá chất lượng của khối bằng chứng và độ mạnh của các khuyến nghị (Sổ tay phân loại chất lượng bằng chứng và độ mạnh của các khuyến nghị sử dụng phương pháp GRADE, 2013). Bất kỳ sự bất đồng nào giữa các điều tra viên đều được giải quyết thông qua thảo luận. Nếu không đạt được sự đồng thuận, các thành viên khác trong nhóm sẽ được mời đóng vai trò là trọng tài.

2.6 Trích xuất dữ liệu

Một biểu mẫu tiêu chuẩn hóa, được thử nghiệm trước đã được sử dụng để trích xuất dữ liệu từ các nghiên cứu được đưa vào nhằm phục vụ đánh giá chất lượng nghiên cứu và tổng hợp bằng chứng. Thông tin được trích xuất bao gồm quần thể nghiên cứu, các đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm nền của người tham gia, chi tiết can thiệp và các điều kiện kiểm chứng, thiết kế nghiên cứu, kết quả đo lường, và thông tin về đánh giá nguy cơ sai lệch. Hai tác giả tổng quan độc lập trích xuất dữ liệu và bất kỳ sự khác biệt nào đều được xác định và giải quyết thông qua thảo luận (thông qua tham vấn với tác giả tổng quan thứ ba nếu cần).

2.7 Tổng hợp dữ liệu

Chúng tôi đã gộp các kết quả bằng phương pháp phân tích gộp hiệu ứng ngẫu nhiên (random-effects meta-analysis), với sự khác biệt trung bình chuẩn hóa đối với các kết quả liên tục và tỷ số nguy cơ đối với các kết quả nhị phân, đồng thời tính toán khoảng tin cậy 95% (95% CI) và giá trị p hai phía cho từng kết quả. Tính dị hợp giữa các nghiên cứu về các chỉ số hiệu quả được đánh giá bằng cả kiểm định χ2 và chỉ số thống kê I2. Chúng tôi coi giá trị I2 lớn hơn 50% là biểu thị tính dị hợp đáng kể. Chúng tôi đã tiến hành các phân tích độ nhạy dựa trên tính chất của các nhóm đối chứng. Hơn nữa, một phân tích dưới nhóm đã được thực hiện, phân tầng theo giới tính của người tham gia, loại tiểu không tự chủ, chất lượng phương pháp luận, phép đo QoL, tần suất điều trị, và loại thiết bị. Các phân tích hồi quy gộp (meta-regression) cũng được thực hiện để kiểm tra tác động điều hòa đối với bốn biến liên tục: tổng số phiên điều trị, tuổi trung bình, tỷ lệ nữ giới, và năm xuất bản.

3. KẾT QUẢ

3.1 Đánh giá kết quả tìm kiếm tài liệu và lựa chọn kết quả

Tổng cộng có 398 nghiên cứu liên quan được tìm thấy bằng chiến lược tìm kiếm nêu trên, và sau khi loại bỏ các nghiên cứu trùng lặp bằng phần mềm quản lý thư mục EndNote, còn lại 268 nghiên cứu. Tiếp theo, chúng tôi đọc tiêu đề và tóm tắt của các nghiên cứu và loại bỏ các kết quả không phù hợp, giữ lại 86 nghiên cứu. Trong số này, chúng tôi giữ lại 20 nghiên cứu cho phần tổng quan hệ thống định tính. Tiếp đó, 17 nghiên cứu được đưa vào phân tích gộp đã được kiểm tra theo tuyên bố PRISMA; ba nghiên cứu còn lại sử dụng hướng dẫn báo cáo SWiM do thiếu thông tin cho phân tích gộp (hai nghiên cứu chỉ trình bày phân tích phi tham số trong khi nghiên cứu còn lại thiếu các giá trị trung bình và SD; Hình 1).

Dữ liệu mô tả để tóm tắt ngắn gọn các đặc điểm của 20 nghiên cứu được đưa vào tổng quan hệ thống được trình bày ở Bảng 1. Xem Phụ lục bổ sung Bảng S4 để biết đặc điểm chi tiết của các nghiên cứu được đưa vào. Nhìn chung, 20 nghiên cứu đủ điều kiện bao gồm 1.093 người tham gia có chẩn đoán tiểu không tự chủ: 948 phụ nữ (85.7%) và 156 nam giới (14.3%). Năm thử nghiệm được tiến hành tại Nhật Bản, ba thử nghiệm tại Ý và các thử nghiệm còn lại được tiến hành tại Úc, Malaysia, Slovenia, Thổ Nhĩ Kỳ và Đài Loan. Chín thử nghiệm bao gồm các đối tượng mắc chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức, năm thử nghiệm bao gồm những người bị tiểu không tự chủ khẩn cấp hoặc bàng quang tăng hoạt, năm thử nghiệm bao gồm người mắc chứng tiểu không tự chủ nói chung, và một thử nghiệm bao gồm người mắc chứng tiểu không tự chủ hỗn hợp. Thời gian can thiệp thay đổi từ 2–24 tuần, với hầu hết là 6–8 tuần.

3.2 Chất lượng phương pháp luận của các nghiên cứu được đưa vào

Các đánh giá sai lệch trên 17 thử nghiệm RCT và ba nghiên cứu lâm sàng có đối chứng được trình bày ở Phụ lục bổ sung Bảng S2 và S3. Chúng tôi cũng tích hợp RoB 2.0 và ROBIN-I vào hệ thống GRADE để đánh giá chất lượng của các thử nghiệm và kết quả gộp. Chi tiết Bảng tóm tắt các phát hiện (SoFs)-GRADE được cung cấp ở Bảng 2. Ngoài ra, chúng tôi đã đánh giá mức độ chắc chắn của ba nghiên cứu không qua phân tích gộp (Bölükbaş và các cộng sự, 2005; But, 2003; But, Faganelj, & Sostaric, 2005) bằng cách sử dụng hệ thống phân cấp mức độ bằng chứng với các thiết kế nghiên cứu khác nhau.

HÌNH 1: Quy trình lựa chọn bài báo để phân tích tổng hợp

BẢNG 1. Tóm tắt ngắn gọn đặc điểm của các nghiên cứu được đưa vào tổng quan

STT Nghiên cứu / Năm Thiết lập Người tham gia Thiết kế nghiên cứu Cỡ mẫu Nhóm đối chứng Kết quả đầu ra
1 Terzoni, Montanari, Mora, Ricci, và Destrebecq (2013a) Ý SUI Non-RCT E: 22; C: 18 FES Biến cố són tiểu
2 Terzoni, Montanari, Mora, Ricci, và Destrebecq (2013b) Ý UI và són tiểu khẩn cấp Non-RCT E: 23; C: 22 Không điều trị Biến cố són tiểu
3 Tsai và các cộng sự (2014) Đài Loan SUI RCT E: 20; C: 14 Kích thích giả lập (Sham)
QoL: Chỉ số ảnh hưởng tiểu gấp – đường tiết niệu (U-UDI)
4 Wallis, Davies, Thalib, và Griffiths (2012) Úc UI RCT E: 50; C: 51 Giả dược (Placebo)
QoL: BFLUTS-SF; Thử nghiệm tấm lót (Pad test) 24 giờ
5 Yamanishi, Homma, Nishizawa, Yasuda, và Yokoyama (2014) Nhật Bản Són tiểu khẩn cấp RCT E: 94; C: 49 Kích thích giả lập (Sham) Số lần rò rỉ/tuần
6 Yamanishi và các cộng sự (2019) Nhật Bản SUI RCT E: 18; C: 12 Kích thích giả lập (Sham)
Thử nghiệm tấm lót; Số lần rò rỉ/tuần; QoL: ICIQ-SF
7 Yokoyama và các cộng sự (2004) Nhật Bản UI RCT E: 12; C: 12 PFME Biến cố són tiểu
8 O’Reilly và các cộng sự (2008) Úc Bàng quang tăng hoạt RCT E: 33; C: 30 Kích thích giả lập (Sham) QoL: KHQ
9 Lim, Liong, Leong, Khan, và Yuen (2018) Malaysia SUI RCT E: 60; C: 60 Kích thích giả lập PMS (Sham)
QoL: ICIQ-UI-SF
10 Lim và các cộng sự (2017) Malaysia SUI RCT E: 60; C: 60 Kích thích giả lập (Sham)
QoL: ICIQ-UI-SF
11 Özengin, Bakar, Özdemir, và Duran (2016) Thổ Nhĩ Kỳ SUI RCT E: 20; C: 24 PFME QoL: ICIQ-QoL
12 Suzuki et al. (2007) Nhật Bản Són tiểu khẩn cấp RCT E: 20; C: 19 Kích thích giả lập (Sham)
QoL: ICIQ-QoL; Số lần rò rỉ
13 Manganotti và các cộng sự (2007) Ý SUI RCT E: 10; C: 10 Giả dược (Placebo) QoL: KHQ
14 Liu và các cộng sự (2008) Trung Quốc UI RCT E: 12; C: 12 PFME QoL
15 But (2003) Slovenia UI RCT E: 30; C: 22 Kích thích giả lập (Sham)
Thử nghiệm tấm lót
16 But và các cộng sự (2005) Slovenia Tiểu không tự chủ hỗn hợp RCT E: 23; C: 16 Kích thích giả lập (Sham)
Thử nghiệm tấm lót
17 Fujishiro et al. (2002) Nhật Bản Són tiểu khẩn cấp RCT E: 22; C: 15 Kích thích giả lập (Sham) QoL; Số lần rò rỉ
18 Gilling và các cộng sự (2009) New Zealand SUI RCT E: 35; C: 35 Kích thích giả lập (Sham)
QoL: Thang đo chất lượng cuộc sống cho người tiểu không tự chủ (I-QoL) và Thử nghiệm tấm lót
19 Khedr, Alkady, El-Hammady, Khalifa, và bin-Humam (2011) Ai Cập Bàng quang tăng hoạt RCT E: 15; C: 11 Kích thích giả lập (Sham) Biến cố són tiểu
20 Bölükbaş và các cộng sự (2005) Thổ Nhĩ Kỳ UI Non-RCT E: 13; C: 14 FES
Thử nghiệm tấm lót

Viết tắt: BFLUTS-SF, Bảng câu hỏi triệu chứng đường tiết niệu dưới cho phụ nữ Bristol – Dạng ngắn; C: nhóm đối chứng; E: nhóm thực nghiệm; ExMI, điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể; FES, kích thích điện chức năng; FMS, Kích thích từ trường chức năng; ICIQ-SF, Bảng câu hỏi tư vấn quốc tế về tiểu không tự chủ – Dạng ngắn; KHQ, Bảng câu hỏi sức khỏe King; non-RCT, thử nghiệm có đối chứng không ngẫu nhiên; PFME, bài tập cơ sàn chậu; QoL, chất lượng cuộc sống; RCT, thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng; SD, độ lệch chuẩn; SMS, kích thích từ trường rễ cùng; SUI, tiểu không tự chủ khi gắng sức; UI, tiểu không tự chủ.

3.3 Cỡ hiệu ứng tổng thể

Cỡ hiệu ứng tổng thể so với các nhóm giả lập (sham) cho các danh mục khác nhau được tóm tắt trong Bảng 3. Biểu đồ phân tán (forest plot) của 12 nghiên cứu đánh giá QoL được trình bày trong Hình 2. Tổng cộng có 12 nghiên cứu phân tích QoL, năm nghiên cứu phân tích số lần rò rỉ, bốn nghiên cứu phân tích kết quả thử nghiệm tấm lót, và bốn nghiên cứu phân tích các biến cố són tiểu. Cỡ hiệu ứng trung bình gộp cho 17 nghiên cứu RCT có ý nghĩa thống kê ở tất cả các khía cạnh; cỡ hiệu ứng trung bình có trọng số của kích thích từ trường trong việc cải thiện QoL, giảm số lần rò rỉ, cải thiện kết quả thử nghiệm tấm lót, và giảm số lần biến cố són tiểu lần lượt là 1.045 (95% CI: 0.409–1.681, p = .001), -0.411 (95% CI: 0.178–0.643, p = .001), -0.290 (95% CI: 0.025–0.556, p = .03), và -0.747 (95% CI: -1.122 đến -0.372, p < .001).

Tuy nhiên, hai nghiên cứu đã báo cáo sự sụt giảm trọng lượng tấm lót trong nội bộ nhóm nhưng không có sự so sánh giữa các nhóm với nhau (But, 2003; But và các cộng sự, 2005). Mặc dù một nghiên cứu khác cho thấy sự cải thiện đáng kể trong thử nghiệm tấm lót, nhưng không có sẵn dữ liệu để phân tích sâu hơn (Bölükbaş và các cộng sự, 2005). Các tính toán chỉ số thống kê I2 và chỉ số Cochran Q đối với kết quả chính của QoL cho thấy tính dị hợp cao (Q = 159.192, df = 12, p < .001, I2 = 93.090%). Do đó, các phân tích dưới nhóm, biến điều hòa và hồi quy gộp đã được thực hiện để khám phá thêm các yếu tố có thể đóng góp vào tính dị hợp này.

3.4 Phân tích độ nhạy

Không tìm thấy giá trị ngoại lai nào sau khi loại bỏ từng nghiên cứu riêng lẻ vì cỡ hiệu ứng của mỗi nghiên cứu đều nằm trong khoảng hai lần SD của cỡ hiệu ứng trung bình gộp. Khi một phân tích độ nhạy khác được thực hiện bằng cách loại bỏ các nghiên cứu có cỡ hiệu ứng lớn nhất (Hedges’ g = 4.494; Lim và các cộng sự, 2017), 11 nghiên cứu còn lại vẫn thể hiện cỡ hiệu ứng có ý nghĩa trong việc cải thiện QoL (cỡ hiệu ứng = 0.729, 95% CI: 0.360–1.098, p < .0001) và tính dị hợp vẫn ở mức cao (Q = 44.462, df = 10, p < .0001, I2 = 77.509%).

3.5 Phân tích dưới nhóm

Các phân tích dưới nhóm đã được tiến hành bằng cách xem xét một vài biến số, cụ thể là loại tiểu không tự chủ (tiểu không tự chủ khi gắng sức và tiểu không tự chủ khác), giới tính (nữ giới và hỗn hợp), và phương pháp đo lường QoL (Bảng câu hỏi tư vấn quốc tế về tiểu không tự chủ – Dạng ngắn [ICIQ-SF] và thang đo QoL), vốn là những yếu tố mà các nghiên cứu trước đây ghi nhận là có tác động ảnh hưởng khác nhau đến điều biến thần kinh từ trường ngoài cơ thể trong liệu pháp điều trị chứng tiểu không tự chủ. Kết quả của một phân tích dưới nhóm cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các phương pháp đo lường QoL (ICIQ-SF và thang đo QoL; Q = 4.205, p = .04).

Các phân tích dưới nhóm khác không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa các phân nhóm. Kết quả phân tích chỉ ra rằng tính dị hợp khi sử dụng thang đo QoL thấp hơn đáng kể so với khi sử dụng ICIQ-SF, nhưng cỡ hiệu ứng của việc sử dụng ICIQ-SF cao hơn đáng kể so với khi sử dụng thang đo QoL (cỡ hiệu ứng lần lượt là 2.466 và 0.507), cho thấy hiệu ứng ở mức trung bình đối với phương pháp đo lường (Bảng 4).

BẢNG 2. Bảng tóm tắt các phát hiện (SoFs)-GRADE đánh giá chất lượng của khối bằng chứng và độ mạnh của khuyến nghị

Số lượng nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Nguy cơ sai lệch Tính không nhất quán Tính gián tiếp Tính không chính xác Số lượng người tham gia (Can thiệp / Đối chứng) Giá trị trung bình (95% CI) Mức độ chắc chắn (GRADE)
Tầm quan trọng / Kết luận
Chất lượng cuộc sống
12 RCT Không nghiêm trọng Nghiêm trọngª Không nghiêm trọng Không nghiêm trọng 436 / 379 1.045

(0.409, 1.681)

⊕⊕⊕◯ TRUNG BÌNH
Kích thích từ trường có thể cải thiện chất lượng cuộc sống.
Số lần rò rỉ
5 RCT Không nghiêm trọng Không nghiêm trọng Không nghiêm trọng Nghiêm trọngᵇ 204 / 146 -0.411 (-0.178, -0.643) ⊕⊕⊕◯ TRUNG BÌNH
Kích thích từ trường có thể làm giảm số lần rò rỉ hàng ngày.
Thử nghiệm tấm lót
4 RCT Không nghiêm trọng Không nghiêm trọng Không nghiêm trọng Không nghiêm trọng 113 / 108 -0.290 (-0.025, -0.556) ⊕⊕⊕⊕ CAO
Kích thích từ trường có thể làm giảm số lượng sử dụng tấm lót hàng ngày.
Biến cố són tiểu
4 2 RCT & 2 thử nghiệm có đối chứng Nghiêm trọng Nghiêm trọngᶜ Không nghiêm trọng Không nghiêm trọng 72 / 63 -0.747 (-1.122, -0.372) ⊕⊕⊕◯ TRUNG BÌNH
Kích thích từ trường không làm giảm các biến cố són tiểu.

Viết tắt: CI, khoảng tin cậy; MD, sự khác biệt trung bình.

aNgoại trừ một nghiên cứu, các thử nghiệm riêng lẻ báo cáo xu hướng và cỡ hiệu ứng tương tự, và ước tính gộp cho thấy tính dị hợp cao.

bKhoảng tin cậy 95% của nó vượt qua ngưỡng lâm sàng.

cCác thử nghiệm riêng lẻ báo cáo xu hướng và cỡ hiệu ứng khác nhau

BẢNG 3. Cỡ hiệu ứng gộp của điều biến thần kinh từ trường ngoài cơ thể đối với tình trạng tiểu không tự chủ

Mã số nghiên cứu Tên nghiên cứu QoL trung bình (95% CI) Số lần rò rỉ trung bình (95% CI) Biến cố són tiểu trung bình (95% CI)
Thử nghiệm tấm lót trung bình (95% CI)
8 O’Reilly và các cộng sự (2008)
0.125 (-0.364 đến 0.614)
11 Özengin và các cộng sự (2016)
0.252 (-0.333 đến 0.837)
12 Suzuki và các cộng sự (2007) 0.397 (-0.224 đến 1.018)
-0.242 (-0.388 đến 0.872)
14 Liu và các cộng sự (2008)
0.966 (0.146–1.785)
9 Lim và các cộng sự (2018)
1.796 (1.374–2.218)
18 Gilling và các cộng sự (2009)
0.750 (0.270–1.230)
-0.240 (-0.230 đến -0.710)
6 Yamanishi và các cộng sự (2019) 1.107 (0.343–1.871)
-0.476 (-0.264 đến 1.216)
-0.315 (-0.419 đến 1.050)
4 Wallis và các cộng sự (2012)
0.198 (-0.190 đến 0.587)
0.283 (-0.109 đến 0.675) -0.292 (-0.100 đến 0.684)
3 Tsai và các cộng sự (2014)
1.231 (0.503–1.960)
13 Manganotti và các cộng sự (2007)
0.577 (-0.281 đến 1.436)
-0.426 (-0.460 đến 1.313)
10 Lim và các cộng sự (2017)
4.494 (3.382–5.164)
17 Fujishiro và các cộng sự (2002) 0.715 (0.053–1.378)
-1.081 (0.394–1.769)
5
Yamanishi và các cộng sự (2014)
-0.370 (0.022–0.718)
1
Terzoni và các cộng sự (2013a)
-1.046 (-1.800 đến -0.293)
2
Terzoni và các cộng sự (2013b)
-0.752 (-1.283 đến 0.222)
7
Yokoyama và các cộng sự (2004)
-0.420 (-1.776 đến -0.937)
19
Khedr và các cộng sự (2011)
-0.452 (-1.344 đến 0.439)
Cỡ hiệu ứng tổng thể (95% CI) 1.045 (0.409–1.681) -0.411 (0.178–0.643) -0.290 (0.025–0.556)
-0.747 (-1.122 đến -0.372)
I2 (%) 93.09 12.31 0 0

Lưu ý: Các giá trị in đậm biểu thị cỡ hiệu ứng có ý nghĩa thống kê, cho biết p < .05. Viết tắt: CI, khoảng tin cậy; I2, tính dị hợp; QoL, chất lượng cuộc sống.

3.6 Phân tích hồi quy gộp

Chúng tôi đã thực hiện một phân tích hồi quy gộp để đánh giá sâu hơn các biến liên tục; tuy nhiên, không quan sát thấy mối quan hệ tuyến tính có ý nghĩa thống kê nào giữa cỡ hiệu ứng và các chế độ điều trị (nghĩa là tuổi trung bình của người tham gia, số phiên điều trị, năm xuất bản, và tỷ lệ phần trăm người tham gia là nữ giới) trong các nghiên cứu được đưa vào (Bảng 5).

3.7 Tổng hợp không qua phân tích gộp đối với các nghiên cứu còn lại

Ba nghiên cứu không thể tiến hành phân tích gộp vì thông tin liên quan cần thiết cho việc gộp thống kê không được báo cáo, do dữ liệu giữa các nhóm không có sẵn hoặc thiếu các giá trị chính xác được báo cáo (Bölükbaş và các cộng sự, 2005; But, 2003; But và các cộng sự, 2005). Ba nghiên cứu này khác nhau về thời gian kéo dài và địa điểm thực hiện can thiệp EXMI. Hai nghiên cứu (But, 2003; But và các cộng sự, 2005) đã sử dụng can thiệp EXMI tại nhà, và một nghiên cứu (Bölükbaş và các cộng sự, 2005) sử dụng can thiệp tại bệnh viện. Hai nghiên cứu có thời gian can thiệp dài gồm 112 phiên (But, 2003; But và các cộng sự, 2005), trong khi một nghiên cứu (Bölükbaş và các cộng sự, 2005) có thời gian can thiệp ngắn gồm 12 phiên. Cả ba nghiên cứu chỉ kiểm tra tình trạng tiểu đêm, số lượng tấm lót và nhật ký tiểu tiện làm kết quả đầu ra của nghiên cứu.

4. THẢO LUẬN

4.1 Hiệu quả tổng thể

Phân tích gộp chỉ ra rằng điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể cải thiện hiệu quả QoL, làm giảm số lần rò rỉ nước tiểu hàng ngày, cải thiện kết quả thử nghiệm tấm lót, và giảm số lần biến cố són tiểu ở những người mắc chứng tiểu không tự chủ. Min và các cộng sự (2017) gợi ý rằng kích thích từ trường cải thiện tình trạng són tiểu không chỉ bằng cách làm co thắt các cơ sàn chậu mà còn đồng thời ức chế cơ chế phản xạ đối kháng đối với việc làm rỗng bàng quang. Các kết quả của nghiên cứu này tương tự như kết quả của Shamliyan và các cộng sự (2008) và Peng và các cộng sự (2019) nhưng khác với kết quả của Pan và các cộng sự (2018).

Phân tích gộp của Pan bao gồm bốn thử nghiệm so sánh kích thích từ trường với can thiệp giả lập và xác định rằng kích thích từ trường không liên quan đến sự cải thiện đáng kể về QoL, giảm số lần rò rỉ, hoặc cải thiện kết quả thử nghiệm tấm lót. Một lý do khả dĩ cho phát hiện này là Pan chỉ chọn bốn bài báo để phân tích tích hợp và hầu hết các bài báo đều là báo cáo của các thử nghiệm thiếu lực thống kê. Trong nghiên cứu hiện tại, hơn 10 bài báo đã được phân tích, và hầu hết các bài báo đều báo cáo các nghiên cứu có chất lượng phương pháp luận cao và cỡ mẫu lớn. Do đó, kết quả của nghiên cứu hiện tại có thể đáng tin cậy hơn về mặt can thiệp.

Hình 2. Biểu đồ rừng về kích thước hiệu quả trung bình tổng hợp của các nghiên cứu được đưa vào đối với chất lượng cuộc sống.

4.2 Tác động của điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể đối với QoL trong phân tích dưới nhóm

Các phân tích dưới nhóm tiết lộ rằng phương pháp đo lường QoL có tác động vừa phải đến hiệu quả của điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể trong việc cải thiện QoL liên quan đến tiểu không tự chủ. Các nghiên cứu được đưa vào có sử dụng ICIQ-SF là nguồn gốc gây ra tính dị hợp — thu được giá trị I2 là 32.662 khi chỉ xem xét các nghiên cứu sử dụng ICIQ-QoL. Ngoài ra, các nghiên cứu sử dụng ICIQ-SF có xu hướng có cỡ hiệu ứng lớn hơn, điều này có thể dẫn đến việc phóng đại hiệu quả của điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể trong việc cải thiện QoL liên quan đến tiểu không tự chủ. ICIQ-SF là một bảng câu hỏi phiên bản ngắn nhằm đánh giá mức độ nghiêm trọng của tình trạng tiểu không tự chủ về tần suất, mức độ nghiêm trọng và tác động đến QoL. Đánh giá QoL ở những cá nhân mắc chứng tiểu không tự chủ bao gồm nhiều biến số, chẳng hạn như tác động của chứng són tiểu đến đời sống hàng ngày, các hạn chế về thể chất, hạn chế về mặt xã hội, và các mối quan hệ cá nhân (Nyström, Sjöström, Stenlund, & Samuelsson, 2015). Mỗi mục trong bảng câu hỏi có các lựa chọn trả lời rõ ràng; điều này tạo ra một tổng điểm có tính đồng nhất cao hơn (do đó làm giảm tính dị hợp).

Vì vậy, đối với việc đánh giá QoL ở những cá nhân mắc chứng tiểu không tự chủ, việc lựa chọn một thang đo phù hợp là vô cùng quan trọng. ICIQ-SF chỉ đánh giá mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng; do đó, nó chỉ hiệu quả nếu các triệu chứng được cải thiện. Ngược lại, thang đo đánh giá QoL bao gồm nhiều thang đo thành phần và sự cải thiện triệu chứng chỉ hình thành một phần nhỏ. Do đó, ICIQ-SF thể hiện một cỡ hiệu ứng lớn hơn.

Về chất lượng phương pháp luận, chúng tôi phát hiện ra rằng nguy cơ sai lệch thấp có xu hướng tạo ra hiệu ứng mạnh hơn so với nguy cơ sai lệch không rõ ràng hoặc nguy cơ sai lệch cao đơn lẻ. Kết quả này nhất quán với kết quả của một báo cáo trước đây (Lin và các cộng sự, 2019).

Ngoài ra, cỡ hiệu ứng của những người mắc chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức cao hơn so với những người không mắc. Những người tham gia hầu hết là phụ nữ mắc các bệnh phụ khoa. Việc giảm nhẹ các triệu chứng tiểu không tự chủ cũng cải thiện đáng kể QoL của họ. Tuy nhiên, những người tham gia không mắc chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức hầu hết là những người bị ung thư. Ngay cả khi các triệu chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức được kiểm soát, các biến chứng khác do ung thư gây ra vẫn có thể ảnh hưởng đến QoL của họ; do đó, cỡ hiệu ứng đạt mức nhỏ.

Về tần suất, cỡ hiệu ứng của các phương pháp điều trị với tần số ≥50 Hz lớn hơn đáng kể so với các phương pháp điều trị có các phiên ít thường xuyên hơn. Ngoài ra, cường độ nằm trong khoảng từ 5 đến 50 Hz và thời gian can thiệp tối ưu (thời gian sử dụng thiết bị và độ dài của các phiên) vẫn chưa chắc chắn. Không có nghiên cứu nào so sánh cỡ hiệu ứng về mặt tần suất phiên điều trị và một phân tích hồi quy gộp đã không phát hiện ra sự khác biệt có ý nghĩa nào liên quan đến số lượng các phiên điều trị. Một lý do khả dĩ cho phát hiện này là khoảng dải biến thiên rất rộng, từ một đến 168 phiên và thiết kế của các nghiên cứu không nhằm mục đích xác định liều lượng riêng lẻ hoặc tần suất phiên điều trị liên quan đến mức độ nghiêm trọng của các trường hợp, dẫn đến sự khác biệt không đáng kể. Do đó, các can thiệp với cường độ và tần suất khác nhau nên được thực hiện tùy theo mức độ nghiêm trọng của tình trạng tiểu không tự chủ và nên cân nhắc việc chia sẻ đưa ra quyết định. Điều này sẽ cho phép khám phá ảnh hưởng của liều lượng điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể đối với tình trạng tiểu không tự chủ.

4.3 Tính dị hợp

Kết quả của phân tích gộp cho thấy tính dị hợp tương đối cao, với các yếu tố ảnh hưởng bao gồm sự không nhất quán trong thiết kế nghiên cứu, sự biến thiên về cỡ mẫu (từ 20 đến 143 đối tượng) và sự phân kỳ đáng kể về số lượng các phiên điều trị (từ 1 đến 168), cường độ (từ 5 đến 50 Hz), và thời gian sử dụng (từ 20 đến 50 phút). Ngoài ra, phân tích gộp bao gồm 12 nghiên cứu; số lượng nghiên cứu cao hơn sẽ tạo ra giá trị I2 cao hơn, đây là một nguyên nhân khác gây ra tính dị hợp. Hơn nữa, chúng tôi đã điều tra nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm loại tiểu không tự chủ (gắng sức so với không gắng sức), giới tính, phương pháp đo lường QoL, và chất lượng phương pháp luận, vốn là những yếu tố có thể đóng góp vào tính dị hợp. Ngoài ra, các nghiên cứu không qua phân tích gộp cũng có tính dị hợp; hai trong số đó sử dụng kích thích từ trường chức năng tại nhà (But, 2003; But và các cộng sự, 2005), trong khi một nghiên cứu cung cấp một chiếc ghế từ trường tại đơn vị niệu phụ khoa (Bölükbaş và các cộng sự, 2005). Các đặc tính của công cụ đo lường cũng có thể đưa sai lệch phép đo vào các so sánh. Do đó, một thước đo kết quả nhất quán hoặc tiêu chuẩn hóa về QoL và số lần rò rỉ có thể được yêu cầu để đánh giá việc báo cáo các kết quả của bệnh nhân. Tuy nhiên, bất chấp tính dị hợp cao, kết quả của phân tích gộp chỉ ra rằng các can thiệp điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể giúp cải thiện QoL cho các cá nhân mắc chứng tiểu không tự chủ.

BẢNG 4. Phân tích dưới nhóm về hiệu quả của ExMI trong điều trị chứng tiểu không tự chủ

Phân nhóm Số nghiên cứu Số nghiên cứu (ID) Ước lượng điểm 95% Cl p giá trị Q p (dị hợp) I²
Loại tiểu không kiểm soát
SUI 6 3,9,10,11,13,18 1.508 1.271–1.745 <.001 109.008 <.001 95.413
Không phải SUI 6 4,6,8,12,14,17 0.419 0.185–0.652 <.001 8.386 .136 40.377
Tổng giữa các nhóm 3.005 .083
Giới tính
Nữ 10 3,4,6,8,9,10,11,13,17,18 1.118 0.380–1.857 .003 156.037 <.001 94.232
Hỗn hợp 2 12,14 0.616 0.074–1.158 .026 1.174 .279 14.79
Tổng giữa các nhóm 1.154 .283
Chất lượng phương pháp
Thấp 5 3,10,12,13,18 1.491 0.019–2.963 .047 102.557 <.001 96.1
Có một số lo ngại 6 4,6,8,9,14,17 0.809 0.187–1.431 .011 38.744 <.001 87.095
Cao 1 11 0.252 -0.333 đến 0.837 .398 0 1.000 0
Tổng giữa các nhóm 3.192 .203
Thước đo chất lượng cuộc sống (QoL)
ICIQ-SF 3 6,9,10 2.466 0.609–4.322 .009 55.947 <.001 96.425
QoL 9 3,4,8,11,12,13,14,17,18 0.507 0.267–0.746 <.001 11.88 .157 32.662
Tổng giữa các nhóm 4.205 .04
Cường độ điều trị
<50 Hz 7 3,4,6,8,12,13,17 0.543 0.226–0.861 .001 11.299 .08 46.897
>50 Hz 5 9,10,1,14,18 1.648 0.342–2.954 .01 106.857 <.001 96.234
Tổng giữa các nhóm 2.954 .107
Thiết bị sử dụng
Ghế (Chair) 7 6,9,10,11,12,14,18 1.393 0.399–2.387 .006 118.51 <.001 94.937
Khác 5 3,4,8,13,17 0.492 0.112–0.872 .01 8.293 .08 51.764
Tổng giữa các nhóm 2.753 .097

Viết tắt: ICIQ-SF, Bảng câu hỏi tư vấn quốc tế về tiểu không tự chủ – Dạng ngắn; QoL, chất lượng cuộc sống; SUI, tiểu không tự chủ khi gắng sức.

BẢNG 5. Hồi quy gộp về hiệu quả của ExMI trong điều trị chứng tiểu không tự chủ

Hạng mục Hệ số 95% CI % Phương sai giải thích Giá trị P
Tổng số phiên điều trị -0.0098 -0.0214 đến 0.0017 -1.67 .0952
Tuổi trung bình -0.0545 -0.1779 đến 0.0689 -0.87 .3868
Tỷ lệ nữ giới (%) 0.0020 -0.0265 đến 0.0306 0.14 .8881
Năm xuất bản 0.1388 -0.0364 đến 0.3140 1.55 .1206

4.4 Điểm mạnh

Các phân tích gộp trước đây chỉ giới hạn ở các nghiên cứu xuất bản bằng tiếng Anh (He và các cộng sự, 2019; Lim, Liong, và các cộng sự, 2015; Pan và các cộng sự, 2018; Peng và các cộng sự, 2019). Chúng tôi đã kết hợp các nghiên cứu xuất bản bằng tiếng Trung và sử dụng phiên bản cập nhật của RoB 2.0 để tiến hành thẩm định nghiêm ngặt. Ngoài ra, chúng tôi đã thực hiện một vài phân tích dưới nhóm và hồi quy gộp để xác định các yếu tố ảnh hưởng tiềm năng và xác định rằng tình trạng tiểu không tự chủ khi gắng sức và giới tính nữ dẫn đến việc ghi nhận các hiệu ứng vượt trội của điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể đối với QoL. Phát hiện này tương tự như phát hiện của các báo cáo trước đây chứng minh rằng kích thích từ trường đem lại sự cải thiện ngắn hạn các triệu chứng tiểu không tự chủ ở phụ nữ (Lim và các cộng sự, 2015). Ngoài ra, phân tích dưới nhóm chỉ ra rằng các nghiên cứu có nguy cơ sai lệch phương pháp luận thấp đã báo cáo tác động mạnh hơn của điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể đối với QoL. Về thời gian điều trị, chúng tôi không xác định được mối quan hệ tuyến tính nào giữa cỡ hiệu ứng và thời gian điều trị. Thời gian và tần suất tối ưu của phương pháp điều trị bằng kích thích từ trường vẫn chưa được thiết lập (Lim và các cộng sự, 2015). Các nghiên cứu bổ sung là cần thiết để thiết lập một phác đồ điều trị tiêu chuẩn.

4.5 Hạn chế

Nghiên cứu hiện tại có những hạn chế. Đầu tiên, các phác đồ kích thích từ trường được sử dụng trong điều trị chứng tiểu không tự chủ có sự khác biệt. Hầu hết các nghiên cứu tiếp tục điều trị trong 6–8 tuần, nhưng một số nghiên cứu báo cáo về một phiên kích thích từ trường duy nhất hoặc thời gian can thiệp kéo dài 24 tuần. Tần suất phiên điều trị thông thường là hai lần mỗi tuần nhưng có thể cao tới ba lần mỗi ngày. Ngoài ra, các quần thể nghiên cứu, người thực hiện can thiệp, kỹ thuật, thời gian kéo dài, cường độ, tần số, khoảng thời gian, tổng số phiên, các phép so sánh khác nhau, và các giai đoạn nghiên cứu nằm ngoài các phân tích dưới nhóm của chúng tôi có thể là các yếu tố nhiễu tiềm ẩn đóng góp vào tính dị hợp trong cả hai nhóm nghiên cứu, có và không có phân tích gộp. Các phép đo lường QoL cũng khác nhau giữa các thử nghiệm, đó là lý do chúng tôi sử dụng cỡ hiệu ứng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc gộp các thang đo kết quả khác nhau cho cùng một khái niệm.

Thứ hai, nghiên cứu này chỉ bao gồm các thử nghiệm RCT và thử nghiệm lâm sàng có nhóm đối chứng. Chỉ có bảy trong số 20 bài báo được đưa vào liên quan đến các nghiên cứu mù đôi, bao gồm hai nghiên cứu không qua phân tích gộp (But, 2003; But và các cộng sự, 2005). Ngoài ra, nghiên cứu này loại trừ các can thiệp đơn lẻ với thiết kế trước–sau kiểm tra hoặc các nghiên cứu đoàn hệ, điều này có thể đưa sai lệch vào. Tuy nhiên, chúng tôi đã xem xét các đặc điểm của các nghiên cứu được đưa vào và kết luận rằng chúng có thiết kế nghiên cứu chặt chẽ (tất cả đều có nguy cơ sai lệch thấp từ quy trình ngẫu nhiên hóa, các sai lệch so với can thiệp dự kiến, thiếu dữ liệu kết quả, đo lường kết quả, lựa chọn kết quả báo cáo, và sai lệch tổng thể theo thẩm định của RoB 2.0). Một điều dưỡng được đào tạo thực hiện can thiệp điều trị với các thước đo kết quả hợp lệ chỉ cho các bệnh nhân nữ mắc chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức trong môi trường lâm sàng có thể giải thích cho hiệu ứng lớn nhất.

Thứ ba, các tác dụng phụ tổng thể của kích thích từ trường không được khảo sát trong nghiên cứu này. Hầu hết trong số 20 bài báo được đưa vào không đề cập đến tác dụng phụ. Một nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng đồ lót có nam châm tĩnh không thoải mái hoặc không hấp dẫn, dẫn đến tỷ lệ mất dấu theo dõi cao. Một nghiên cứu khác gợi ý rằng các tác dụng phụ bao gồm tiêu chảy, đau cơ, buồn ngủ, táo bón và khó chịu. Cuối cùng, một vài phân nhóm trong nghiên cứu này chỉ được bao gồm trong một số ít bài báo, điều này làm hạn chế hiệu quả của phân tích.

5. KẾT LUẬN

Kết quả của phân tích gộp này chỉ ra rằng điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể có thể cải thiện hiệu quả QoL, làm giảm số lượng rò rỉ hàng ngày, giảm lượng sử dụng tấm lót hàng ngày, và giảm số lần biến cố són tiểu ở các cá nhân mắc chứng tiểu không tự chủ. Mặc dù quan sát thấy tính dị hợp cao trong các nghiên cứu được đưa vào, không có sự khác biệt có ý nghĩa nào được xác định trong QoL. Tóm lại, điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể có hiệu quả và được khuyến nghị sử dụng trên lâm sàng trong điều trị chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức ở phụ nữ. Chúng tôi khuyến nghị các nghiên cứu trong tương lai xác định một phác đồ điều trị tối ưu để đảm bảo tính khả dụng của nó trong thực hành lâm sàng và tăng khả năng tổng quát hóa các kết quả nghiên cứu. Hơn nữa, khi một bệnh nhân biểu hiện các triệu chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức, chúng tôi khuyến nghị các nhân viên y tế và điều dưỡng sử dụng các phương pháp không xâm lấn chẳng hạn như ghế kích thích từ trường ngoài cơ thể để cải thiện QoL của bệnh nhân và giảm rò rỉ nước tiểu.

LỜI CẢM ƠN: Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các tác giả đã hào phóng chia sẻ kinh nghiệm của họ và dành thời gian để hoàn thành cuộc khảo sát.

XUNG ĐỘT LỢI ÍCH: Các tác giả tuyên bố rằng họ không có xung độ lợi ích nào liên quan đến công trình này.

ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ: Các tác giả WHH, PCL, PHL, JCW, TET, và SRC đã đóng góp vào ý tưởng và thiết kế của nghiên cứu. Các tác giả PCL, PHL và SRC đóng góp vào việc thu thập dữ liệu. Các tác giả WHH, JCW, và TET đóng góp vào việc phân tích và diễn giải dữ liệu. Các tác giả WHH, PCL, PHL, và SRC đóng góp vào phiên bản cuối cùng của bản thảo. Tất cả các tác giả đã xem xét bản thảo dự thảo, và phê duyệt bản thảo cuối cùng.

ĐÁNH GIÁ ĐỒNG LIÊU (PEER REVIEW): Lịch sử đánh giá đồng liêu cho bài báo này có sẵn tại https://publons.com/publon/10.1111/jan.14450.

MÃ ĐỊNH DANH ORCID:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Abrams, P., Cardozo, L., Fall, M., Griffiths, D., Rosier, P., Ulmsten, U., . . . Wein, A. (2003). Thống nhất thuật ngữ trong chức năng đường tiết niệu dưới: báo cáo từ tiểu ban thống nhất thuật ngữ của Hội Són tiểu Quốc tế. Urology, 61(1), 37–49.

  2. Anger, J. T., Saigal, C. S., Madison, R., Joyce, G., & Litwin, M. S. (2006). Dự án Các bệnh lý tiết niệu tại Mỹ. Chi phí ngày càng tăng của tình trạng tiểu không tự chủ ở những phụ nữ hưởng lợi từ bảo hiểm y tế Medicare. Journal of Urology, 176(1), 247–251. https://doi.org/10.1016/S0022-5347(06)00588-X

  3. Bölükbaş, N., Vural, M., Karan, A., Yalçin, O., & Eskiyurt, N. (2005). Hiệu quả của kích thích từ trường chức năng so với kích thích điện ở phụ nữ bị tiểu không tự chủ. Eura Medicophys., 41(4), 297–301.

  4. But, I. (2003). Điều trị bảo tồn chứng tiểu không tự chủ ở nữ giới bằng kích thích từ trường chức năng. Urology, 61, 558–561. https://doi.org/10.1016/S0090-4295(02)02249-5

  5. But, I., Faganelj, M., & Sostaric, A. (2005). Kích thích từ trường chức năng điều trị són tiểu hỗn hợp. Journal of Urology, 173, 1644–1646. https://doi.org/10.1097/01.ju.0000157336.87781.32

  6. Campbell, M., McKenzie, J. E., Sowden, A., Katikireddi, S. V., Brennan, S. E., Ellis, S., . . . Thomson, H. (2020). Tổng hợp không qua phân tích gộp (SWiM) trong các tổng quan hệ thống: Hướng dẫn báo cáo. BMJ, 16(368), l6890. https://doi.org/10.1136/bmj.l6890

  7. Chang, K. M., Hsieh, C. H., Chiang, H. S., & Lee, T. S. (2017). Xu hướng phẫu thuật són tiểu ở nữ giới nội trú và chi phí tại Đài Loan, 1997–2011. Taiwanese Journal of Obstetrics & Gynecology., 56(1), 32–36.

  8. Fujishiro, T., Takahashi, S., Enomoto, H., Ugawa, Y., Ueno, S., & Kitamura, T. (2002). Kích thích từ trường rễ thần kinh cùng trong điều trị chứng tiểu nhiều lần và són tiểu khẩn cấp: Một nghiên cứu khảo sát và thử nghiệm kiểm chứng bằng giả dược. Journal of Urology, 168, 1036–1039. https://doi.org/10.1016/S0022-5347(05)64569-7

  9. Gilling, P. J., Wilson, L. C., Westenberg, A. M., McAllister, W. J., Kennett, K. M., Frampton, C. M., . . . Fraundorfer, M. R. (2009). Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng mù đôi về kích thích điện từ trường sàn chậu so với liệu pháp giả lập trong điều trị phụ nữ bị tiểu không tự chủ khi gắng sức. BJU International, 103, 1386–1390. https://doi.org/10.1111/j.1464-410X.2008.08329.x

  10. Greer, J. A., Arya, L. A., & Smith, A. L. (2013). Tiểu không tự chủ: Chẩn đoán và điều trị ở người cao tuổi. Current Translational Geriatrics and Experimental Gerontology Reports., 2, 66–75. https://doi.org/10.1007/s13670-013-0037-6

  11. Hướng dẫn phân loại chất lượng bằng chứng và độ mạnh của các khuyến nghị sử dụng phương pháp GRADE. (2013) Cập nhật tháng 10 năm 2013. Lấy từ https://gdt.gradepro.org/app/handbook/handbook.html

  12. He, Q., Xiao, K., Peng, L., Lai, J., Li, H., Luo, D., & Wang, K. (2019). Một phân tích gộp hiệu quả về liệu pháp kích thích từ trường điều trị chứng tiểu không tự chủ. Scientific Reports, 9, 9077. https://doi.org/10.1038/s41598-019-45330-9

  13. Higgins, J. P. T., Altman, D. G., Gotzsche, P. C., Juni, P., Moher, D., Oxman, A. D., . . . Sterne, J. A. C. (2011). Công cụ của Bộ hợp tác Cochrane trong đánh giá nguy cơ sai lệch trong các thử nghiệm ngẫu nhiên. BMJ, 343, d5928. https://doi.org/10.1136/bmj.d5928

  14. Khedr, E. M., Alkady, E. A., El-Hammady, D. H., Khalifa, F. A., & bin-Humam, S. (2011). Kích thích từ trường lặp lại thần kinh thắt lưng cùng cải thiện tình trạng rối loạn chức năng bàng quang do tổn thương thần kinh thắt lưng cùng: Một nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng sơ bộ. Neurorehabilitation and Neural Repair, 25, 570–576. https://doi.org/10.1177/1545968311400091

  15. Komesu, Y. M., Schrader, R. M., Ketai, L. H., Rogers, R. G., & Dunivan, G. C. (2016). Dịch tễ học chứng tiểu không tự chủ hỗn hợp, gắng sức và khẩn cấp ở phụ nữ trung niên/lớn tuổi: Tầm quan trọng của tiền sử són tiểu. International Urogynecology Journal, 27(5), 763–772. https://doi.org/10.1007/s00192-015-2888-1

  16. Labrie, J., Berghmans, B. L. C. M., Fischer, K., Milani, A. L., van der Wijk, I., Smalbraak, D. J. C., . . . van der Vaart, C. H. (2013). Phẫu thuật so với vật lý trị liệu cho chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức. New England Journal of Medicine, 369(12), 1124–1123. https://doi.org/10.1056/NEJMoa1210627

  17. Lim, R., Lee, S. W., Tan, P. Y., Liong, M. L., & Yuen, K. H. (2015). Hiệu quả của liệu pháp điện từ cho chứng tiểu không tự chủ: Một tổng quan hệ thống. Neurourology and Urodynamics, 34, 713–722. https://doi.org/10.1002/nau.22672

  18. Lim, R., Liong, M. L., Leong, W. S., Karim Khan, N. A., & Yuen, K. H. (2015). Kích thích từ trường cho chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức: Đề cương nghiên cứu cho một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng. Trials., 16, 279. https://doi.org/10.1186/s13063-015-0803-1

  19. Lim, R., Liong, M. L., Leong, W. S., Karim Khan, N. A., & Yuen, K. H. (2017). Kích thích từ trường xung cho chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức: Kết quả theo dõi 1 năm. Journal of Urology, 17(5), 1302–1308. https://doi.org/10.1016/j.juro.2016.11.091

  20. Lim, R., Liong, M. L., Leong, W. S., Khan, N. A. K., & Yuen, K. H. (2018). Tác động của kích thích từ trường xung đối với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nữ bị tiểu không tự chủ khi gắng sức: Một nghiên cứu giai đoạn 2b IDEAL-D. International Urogynecology Journal, 29(4), 547–554. https://doi.org/10.1007/s00192-017-3439-8

  21. Lin, P. C., Lee, P. H., Tseng, S. J., Lin, Y. M., Chen, S. R., & Hou, W. H. (2019). Tác dụng của liệu pháp hương thơm đối với chất lượng giấc ngủ: Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp. Complement Ther Med., 45(2019), 156–166. https://doi.org/10.1016/j.ctim.2019.06.006

  22. Liu, F., Yao, L. P., Mai, H. X., Liu, H. L., Yuan, J. L., Wang, F. L., . . . Wang, H. (2008). Điều biến thần kinh từ trường ngoài cơ thể trong điều trị chứng tiểu không tự chủ sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt tận căn. Journal of Clinical Rehabilitative Tissue Engineering Research, 12(17), 3289–3292.

  23. Manganotti, P., Zaina, F., Vedovi, E., Pistoia, L., Rubilotta, E., D’Amico, A., & Falso, M. (2007). Kích thích từ trường lặp lại các rễ thần kinh cùng trong điều trị són tiểu gắng sức: Báo cáo ngắn gọn. Eura Medicophys., 43(3), 339–344.

  24. Min, J., Li, B., Liu, C., Hong, S., Tang, J., Hu, M., . . . Hong, L. I. (2017). Hiệu quả điều trị và cơ chế kích thích điện trong chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức ở nữ giới. Urology, 104, 45–51. https://doi.org/10.1016/j.urology.2017.02.005

  25. Moher, D., Liberati, A., Tetzlaff, J., Altman, D. G.; Nhóm chuyên gia PRISMA. (2009). Các mục báo cáo ưa thích cho tổng quan hệ thống và phân tích gộp: Tuyên bố PRISMA. Annals of Internal Medicine, 151, 2649.

  26. Nygaard, I., Barber, M. D., Burgio, K. L., Kenton, K., Meikle, S., Schaffer, J., . . . Brody, D. J. (2008). Mạng lưới Rối loạn chức năng sàn chậu, Tỷ lệ lưu hành các rối loạn sàn chậu có triệu chứng ở phụ nữ Mỹ. JAMA, 300, 1311–1316. https://doi.org/10.1001/jama.300.11.1311

  27. Nyström, E., Sjöström, M., Stenlund, H., & Samuelsson, E. (2015). Các công cụ đo lường triệu chứng và chất lượng cuộc sống ICIQ đo lường những cải thiện liên quan đến lâm sàng ở phụ nữ bị tiểu không tự chủ khi gắng sức. Neurourology and Urodynamics, 34(8), 747–751. https://doi.org/10.1002/nau.22657

  28. O’Reilly, B. A., Fynes, M., Achtari, C., Hiscock, R., Thomas, E., Murray, C., & Dwyer, P. L. A. (2008). Thử nghiệm kiểm chứng giả dược ngẫu nhiên mù đôi tiến cứu đánh giá tác dụng của kích thích từ trường xuyên rễ cùng ở phụ nữ mắc hội chứng bàng quang tăng hoạt. International Urogynecology Journal, 19(4), 497–502.

  29. Özengin, N., Bakar, Y., Özdemir, Ö. C., & Duran, B. (2016). So sánh phương pháp điều trị bằng phản hồi sinh học EMG và điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể ở phụ nữ bị tiểu không tự chủ. Clinical and Experimental Obstetrics and Gynecology, 43(4), 550–554.

  30. Pan, H., Bao, Y., Cao, H., Jin, R., Wang, P., & Zhang, J. (2018). Hiệu quả của kích thích từ trường cho bệnh nhân rối loạn chức năng sàn chậu: Tổng quan hệ thống và phân tích gộp. Neurourology and Urodynamics, 37, 2368–2381. https://doi.org/10.1002/nau.23797

  31. Peng, L., Zeng, X., Shen, H., & Luo, D. Y. (2019). Kích thích từ trường cho bệnh nhân nữ bị tiểu không tự chủ khi gắng sức, một phân tích gộp các nghiên cứu với theo dõi ngắn hạn. Medicine, 98, e15572. https://doi.org/10.1097/MD.0000000000015572

  32. Sebesta, M., Cespedes, R. D., Luhman, E., Optenberg, S., & Thompson, I. M. (2002). Kết quả dựa trên bảng câu hỏi về tình trạng tiểu không tự chủ và tỷ lệ hài lòng sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt tận căn trong một quần thể nghiên cứu quốc gia. Urology, 60, 1055–1058. https://doi.org/10.1016/S0090-4295(02)01989-1

  33. Shamliyan, T. A., Kane, R. L., Wyman, J., & Wilt, T. J. (2008). Tổng quan hệ thống: Các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng về các phương pháp điều trị không phẫu thuật cho chứng tiểu không tự chủ ở phụ nữ. Annals of Internal Medicine, 148, 459–473. https://doi.org/10.1326/0003-4819-148-6-200803180-00211

  34. Sterne, J. A. C., Hernán, M. A., Reeves, B. C., Savović, J., Berkman, N. D., Viswanathan, M., . . . Higgins, J. P. T. (2016). ROBINS-I: Một công cụ để đánh giá nguy cơ sai lệch trong các nghiên cứu không ngẫu nhiên về can thiệp. BMJ, 355, i4919. https://doi.org/10.1136/bmj.i4919

  35. Suzuki, T., Yasuda, K., Yamanishi, T., Kitahara, S., Nakai, H., Suda, S., & Ohkawa, H. (2007). Đánh giá ngẫu nhiên, mù đôi, kiểm chứng bằng giả lập về tác dụng của kích thích từ trường liên tục chức năng ở bệnh nhân són tiểu khẩn cấp. Neurourology and Urodynamics, 26(6), 767–772. https://doi.org/10.1002/nau.20423

  36. Terzoni, S., Montanari, E., Mora, C., Ricci, C., & Destrebecq, A. L. (2013a). Kích thích điện so với điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể cho chứng tiểu không tự chủ sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt tận căn. International Journal of Urological Nursing, 7(3), 121–125. https://doi.org/10.1111/ijun.12008

  37. Terzoni, S., Montanari, E., Mora, C., Ricci, C., & Destrebecq, A. (2013b). Giảm rò rỉ nước tiểu sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt qua đường sau xương mu tận căn: Bài tập cơ sàn chậu, điều biến từ trường hay không điều trị? Một nghiên cứu bán thực nghiệm. Rehabilitation Nursing, 38(3), 153–160T. https://doi.org/10.1002/rnj.72

  38. Tsai, P. Y., Wang, C. P., Hsieh, C. Y., Tsai, Y. A., Yeh, S. C., & Chuang, T. Y. (2014). Kích thích từ trường rễ cùng dài hạn cho chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức kháng trị. Archives of Physical Medicine and Rehabilitation, 95, 2231–2238. https://doi.org/10.1016/j.apmr.2014.07.010

  39. Tsai, Y. C., & Liu, C. H. (2009). Tiểu không tự chủ ở phụ nữ Đài Loan: Một nghiên cứu ngoại trú về tỷ lệ lưu hành, bệnh đồng mắc, các yếu tố nguy cơ và chất lượng cuộc sống. International Urology and Nephrology, 41(4), 795–803. https://doi.org/10.1007/s11255-009-9523-3

  40. Wallis, M. C., Davies, E. A., Thalib, L., & Griffiths, S. (2012). Kích thích từ trường tĩnh vùng chậu để kiểm soát chứng tiểu không tự chủ ở phụ nữ lớn tuổi: Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng. Clinical Medicine & Research, 10(1), 7–14. https://doi.org/10.3121/cmr.2011.1008

  41. Wilson, L., Brown, J. S., Shin, G. P., Luc, K. O., & Subak, L. L. (2001). Chi phí trực tiếp hàng năm của chứng tiểu không tự chủ. Obstetrics and Gynecology, 98(3), 398–406. https://doi.org/10.1097/00006250-200109000-00007

  42. Yamanishi, T., Homma, Y., Nishizawa, O., Yasuda, K., & Yokoyama, O. (2014). Nghiên cứu đa trung tâm, ngẫu nhiên, kiểm chứng bằng giả lập về hiệu quả của kích thích từ trường cho phụ nữ bị són tiểu khẩn cấp. International Journal of Urology, 21(4), 395–400. https://doi.org/10.1111/iju.12289

  43. Yamanishi, T., Suzuki, T., Sato, R., Kaga, K., Kaga, M., & Fuse, M. (2019). Tác động của kích thích từ trường đối với chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức dựa trên niệu động học kháng với tập luyện cơ sàn chậu trong một nghiên cứu ngẫu nhiên kiểm chứng bằng giả lập. LUTS, 11(1), 61–65. https://doi.org/10.1111/luts.12197

  44. Yokoyama, T., Nishiguchi, J., Watanabe, T., Nose, H., Nozaki, K., Fujita, O., & Kumon, H. (2004). Nghiên cứu so sánh tác dụng của điều biến thần kinh bằng từ trường ngoài cơ thể so với kích thích điện đối với chứng tiểu không tự chủ sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến tiền liệt tận căn. Urology, 63(2), 264–267.

THÔNG TIN HỖ TRỢ
Thông tin hỗ trợ bổ sung có thể được tìm thấy trực tuyến trong phần
Thông tin hỗ trợ.

Cách trích dẫn bài báo này: Hou W-H, Lin P-C, Lee P-H, Wu J-C, Tai T-E, Chen S-R. Tác dụng của kích thích từ trường ngoài cơ thể đối với chứng tiểu không tự chủ: Một đánh giá hệ thống và phân tích tổng hợp. J Adv Nurs. 2020;76:2286–2298. https://doi.org/10.1111/jan.14450

Tạp chí Journal of Advanced Nursing (JAN) là một tạp chí khoa học quốc tế được bình duyệt (peer-reviewed). JAN góp phần thúc đẩy sự phát triển của điều dưỡng, hộ sinh và chăm sóc sức khỏe dựa trên bằng chứng thông qua việc phổ biến các nghiên cứu chất lượng cao và các công trình học thuật có giá trị thực tiễn, có tiềm năng nâng cao kiến thức trong thực hành, giáo dục, quản lý hoặc hoạch định chính sách. JAN xuất bản các bài tổng quan nghiên cứu, báo cáo nghiên cứu gốc, cũng như các bài báo về phương pháp luận và lý thuyết.

Để biết thêm thông tin, vui lòng truy cập JAN trên trang Wiley Online Library:
www.wileyonlinelibrary.com/journal/jan

Lý do nên công bố bài báo trên JAN

  • Là tạp chí điều dưỡng có chỉ số ảnh hưởng (Impact Factor) cao, được trích dẫn nhiều nhất thế giới, với Impact Factor 1,998; xếp thứ 12/114 trong Journal Citation Reports (JCR) năm 2016 thuộc lĩnh vực Điều dưỡng (Khoa học xã hội).
  • Là một trong những tạp chí điều dưỡng được đọc nhiều nhất trên thế giới, với hơn 3 triệu lượt tải bài báo trực tuyến mỗi năm và được truy cập tại hơn 10.000 thư viện trên toàn cầu, bao gồm hơn 3.500 thư viện ở các nước đang phát triển được truy cập miễn phí hoặc với chi phí thấp.
  • Quy trình nộp bài trực tuyến nhanh và thuận tiện qua hệ thống: http://mc.manuscriptcentral.com/jan
  • Trải nghiệm xuất bản tích cực với quy trình phản biện kín hai chiều (double-blind peer review) nhanh chóng và mang tính xây dựng.
  • Xuất bản trực tuyến nhanh, trung bình trong vòng 5 tuần kể từ khi bản thảo được chấp nhận đến khi bài báo được đăng trực tuyến.
  • Tùy chọn Open Access (truy cập mở): tác giả có thể trả phí để bài báo được truy cập tự do và công khai ngay sau khi xuất bản trên Wiley Online Library. Ngoài ra, tác giả có thể lưu trữ bài báo trong kho lưu trữ của cơ quan mình hoặc của đơn vị tài trợ (ví dụ: PubMed).

Nguồn: gbo Medizintechnik AG

Nhấn vào đây để xem chi tiết sản phẩm↵

Dịch thuật: Đàm Văn Đạt

Bạn không thể sao chép nội dung của trang này